16/10/2020

Người Celtic cổ đại đã để lại 6 giáo lý thiêng liêng cho nhân loại

Trong phần lớn thời gian của những năm đầu đời của mình, tôi cảm thấy trống rỗng, không phải thứ cảm giác trống rỗng, vu vơ không mục đích, mà là một sự trống rỗng sâu sắc và khốn khổ.

Người Celtic cổ đại đã để lại 6 giáo lý thiêng liêng cho nhân loại

Trong khi gia đình tôi có những ý tưởng của riêng họ về những gì gọi là “Thần thánh” và “Tâm linh”, tôi lại luôn có một cảm giác bực bội, ấm ức khi cứ phải lặp đi lặp lại Kinh sách tôn giáo bằng cách học vẹt, thường xuyên tham dự các bài giảng và nghi lễ tôn giáo, và bảo vệ phẩm giá của những giáo lý, giáo điều đó vốn dĩ không phải câu trả lời.

Sống một cuộc sống như vậy, tôi không cảm nhận được bất cứ thứ gì chân thực, sâu sắc hay mẽ với sự Thiêng liêng, thần thánh/ Divine, cũng không trải nghiệm được những điều huyền bí hấp dẫn, ngoạn mục của Sự vô hạn. Cảm giác duy nhất tôi cảm nhận được từ những vị thần là sự khô khan, các nghi lễ chính thống cùng với những viễn cảnh về thiên đàng, địa ngục thật sự rất khô khan, vô vị, một cảm giác thiếu sống động khi tất cả đã bị nhốt trong một tòa nhà ngột ngạt quá lâu với những “con người tự xem mình là chính nghĩa”.

Cuối cùng, tôi rơi xuống vực sâu của sự thức tỉnh tâm linh và sau đó là Đêm đen của tâm hồn, tôi đã đi đến một nhận thức giúp thay đổi cuộc sống.

Cách mà tôi được sinh ra đã tập trung vào những giáo điều cứng ngắc. Điều tôi đã tìm kiếm là một con đường để trải nghiệm Sự linh thiêng mà bạn có thể cảm nhận được.

Tôi đã cố gắng để trải nghiệm Tâm linh

Tâm linh qua trải nghiệm (Experiential Spirituality)


Khi tôi dần vượt qua những năm tháng mờ mịt và hỗn loạn của Đêm đen của tâm hồn, tôi bắt đầu đọc thêm về thế giới lịch sử lâu đời và đầy màu sắc của các tôn giáo, tâm linh và những trải nghiệm tâm linh. Một trong những lối sống mà tôi cảm thấy đặc biệt bị lôi cuốn đó là Chủ nghĩa Druid cổ đại và Druid mới (Ancient Druidism and Neo-Druidism).

Khi tôi tìm hiểu thêm về con đường ít người biết này, tôi nhận ra rằng nó đã xác định một cách hoàn hảo những gì đã từng là Tâm linh thực nghiệm/Tâm linh qua trải nghiệm thật sự.

Chủ nghĩa Druid/Druidism là gì?


Người Celtic cổ đại đã để lại 6 giáo lý thiêng liêng cho nhân loại

Druidism được cho là một tôn giáo hoặc Tâm linh của người Celtic có nguồn gốc từ Anh, Ireland và Gaul (Tây Âu). Được thực hành bởi các Linh mục và Nữ tu sĩ hay còn được gọi là những Druids. Ngày nay còn tồn tại rất ít những tàn dư của những thực hành cổ xưa này. Druidism được biết đến lần đầu tiên bởi Julius Caesar trong Bản báo cáo về cuộc chinh phạt xứ Gaule (Commentari de Bello Gallico) của ông vào năm 50 trước Công nguyên, tuy nhiên, không có tạo tác nào còn tồn tại đến giờ để có thể liên kết trực tiếp tới Chủ nghĩa Druid cổ đại. Điều này có thể là do hầu hết các giáo lý Druid thường được nói bằng lời thay vì được ghi chép lại thành văn bản.

Trên thực tế, như Druid John Michael Greer đã từng nhận xét trong cuốn sách của mình có tên “Cuốn sổ tay Druidry/The Druidry Handbook”:

“Tất cả những văn bản còn sót lại viết về Druids khi chúng vẫn còn tồn tại – thì tổng cộng chỉ khoảng mười trang hoặc hơn khi dịch sang tiếng Anh”

Mặc dù vậy, điều này cũng đã không ngăn cản được sự hồi sinh của Chủ nghĩa Druid, hay Chủ nghĩa Druid mới (Neo-Druidism), đã tìm lại được đà phục hồi của mình vào thế kỷ 18,19.

Mặc dù có nhiều chỉ trích về Chủ nghĩa Druidism liên quan đến nguồn gốc lịch sử mơ hồ của nó, như Greer chỉ ra: 

“….nguồn gốc lịch sử của một truyền thống không ảnh hướng đến giá trị tâm linh của nó. Sự xác đáng của Druidry phụ thuộc vào những giá trị mà nó mang đến ở đây và ngay lúc này.

Làm thế nào để cảm nhận Tâm linh một cách sâu sắc


Có lẽ một trong những đặc điểm độc đáo và xác định nhất của Chủ nghĩa Druid là từ chối tán thành bất kỳ một hệ thống niềm tin cứng ngắc nào cũng như nhấn mạnh vào “thời điểm hiện tại”, tâm linh định hướng tự nhiên (nature-orientated spirituality). Đây là những bài học mà Druidism đã dạy tôi, và tôi hy vọng chúng cũng có thể mang lại những lợi ích cho bạn:

Tín ngưỡng (Creeds), giáo điều (dogmas) và Phúc âm (gospels) tạo ra sự bất đồng và mất đoàn kết.

Như Greer đã chỉ ra:

Druids hiện đại học hỏi từ những giáo lý cổ xưa, truyền thống phát triển của Druidry hiện đại chính nó và những bài học luôn thay đổi của Hành tinh này. Họ ôm lấy những kinh nghiệm tâm linh và từ bỏ những hệ thống niềm tin cứng ngắc cho những sự rèn luyện nội tại và liên hệ cá nhân với những lĩnh vực tự nhiên và tinh thần.

Bất kỳ tôn giáo hay tâm linh nào dựa trên việc tạo ra sự tách biệt giữa mọi người, bằng cách xác định ai là “người tốt/trung thực” và “người xấu/không trung thực”, về bản chất là phản tác dụng (counterproductive) với việc trải nghiệm tình yêu, sự hợp nhất và Thiêng liêng. Khi bạn từ bỏ nhu cầu trở nên đúng đắn và trở thành người thánh thiện hơn, bạn sẽ mở rộng tâm trí để cảm nhận và trải nghiệm Tâm linh của mình, thay vì mang theo một Nghị trình đầy cao ngạo nhằm chứng minh cho người khác về một điểm, và cố gắng để “cải tạo” họ để đứng đứng về phía bạn.

Niềm tin là Phản đề cho Trải nghiệm. Tâm linh là một trải nghiệm.

Mặc dù đức tin là cần thiết trong một số trường hợp (ví dụ: Đức tin rằng cuộc sống sẽ mở ra cơ hội cho bạn), nhưng nó không phải là một thành phần thiết yếu của tâm linh. Bạn không cần phải có niềm tin rằng Chúa tồn tại, bạn có thể trải nghiệm Thiên tính này và liên kết không thể tách rời của chính bạn với nó trong chính mình.

Là một linh đạo lấy tự nhiên làm gốc, Druidism cho chúng ta thấy một chân lý rằng “kết nối có thể được trải nghiệm mọi lúc trong tự nhiên”; ngồi giữa những tán cây và thiền định, đi bộ bên dòng nước và để dòng ý thức của bạn tuôn trào cùng với nó.

Bạn không cần phải là một thành viên của bất kỳ tổ chức, tôn giáo, hội nhóm nào để trải nghiệm tâm linh

Trải nghiệm tâm linh có thể phát triển mạnh trong sự cô độc hoàn hảo. Như Greer chỉ ra:

Trở thành một Druid không đòi hỏi tư cách thành viên trong một tổ chức, các nghi thức mở màn hoặc các danh hiệu hoành tráng. Nó chỉ đòi hỏi sự tôn kính đối với Hành tinh nơi ta đang sống và thực hành tâm linh lấy thiên nhiên làm trung tâm và con đường cuộc sống. Tất cả những điều này đều có thể được thực hành trong sự cô đơn hoàn hảo.

Để cảm nhận một cách sâu sắc Tâm linh nơi bạn, bạn nên xem xét việc “tạo ra” nó.

Điều này thực sự rất quan trọng. Tạo ra thứ Tâm linh của riêng bạn, các nghi lễ của riêng bạn, kinh nghiệm của riêng bạn thay vì dựa vào một thứ khác để cung cấp cho bạn, mang lại cho bạn ý thức trách nhiệm và quyền sở hữu đối với hạnh phúc của chính mình.

“Ở một phạm vi lớn hơn, một linh đạo/tâm linh (spirituality) thực sự hiệu quả là một thứ được tạo ra chứ không phải đơn giản là được tìm thấy” – Greer dẫn giải.

Điều này không có nghĩa là những con đường đã được thiết lập khác là vô ích. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của riêng tôi, “một đạo tâm linh” được tạo ra cũng mạnh mẽ không khác nào một thứ được tìm thấy. Ví như ở thời điểm hiện tại, tôi coi “Tâm linh” của mình là một sự chắp vá phức tạp của những triết lý, tâm lý học, tôn giáo phương đông và những văn bản huyền bí – một thứ gì đó tôi đã hợp nhất, và một thứ gì đó giúp tôi trở nên hoàn thiện.

Sống đơn giản.

Người Celtic cổ đại đã để lại 6 giáo lý thiêng liêng cho nhân loại

Chủ nghĩa Druidism hiện đại nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đơn giản hóa và giản lược (declutter) cuộc sống bên ngoài của bạn để nhường chỗ cho một đời sống trù phú bên trong. Không thể phủ nhận rằng trong nền văn hóa vật chất của chúng ta hiện tại, chúng ta đã mất liên lạc với việc trải nghiệm tâm linh. Điều này chủ yếu là bởi chu kỳ liên tục của làm việc, mua sắm, tiêu thụ, làm việc, mua sắm, tiêu thụ…mà chúng ta lạc lối bên trong.

Bởi lý do này, sự đơn giản tự nguyện là một con đường được nhấn mạnh bởi truyền thống Druid nhằm tạo ra sự trọn vẹn, hạnh phúc và thống nhất trong cuộc sống của chúng ta. Như Greer đã nhấn mạnh:

…người dân ở thế giới phát triển đã làm xáo trộn cuộc sống của họ với quá nhiều tài sản và dâng hiến quá nhiều thời gian để mua sắm, duy trì và trả tiền cho chúng và họ chẳng còn căn phòng nào dành cho tâm linh, cộng đồng, mối quan hệ, phát triển cá nhân hay hạnh phúc đơn giản. [Druids hiện đại] đề xuất một sự thay thế những cuộc ‘đua chuột/mouse race’ về tiêu dùng vô tận bằng một cuộc sống bên ngoài đơn giản và giàu có bên trong, và đã phát triển những công cụ hữu ích để phân biệt sự khác nhau giữa nhu cầu (needs) và mong muốn (wants), thoát khỏi guồng quay của chủ nghĩa tiêu dùng cho lợi ích của chính nó và di chuyển hướng tới một lối sống bớt hỗn loạn hơn.

Phát triển một sự cân bằng theo hướng đi vào bên trong (within) và bên ngoài (without) chính mình

Mặc dù học hỏi từ thế giới bên ngoài rất quan trọng cho sự phát triển tâm linh, nhưng điều đó cũng diễn ra bên trong chúng ta. Thật không may, điều này lại thường xuyên bị né tránh hoặc xa rời bởi nhiều tôn giáo. May mắn thay, Druidism là một trong nhiều con đường khuyến khích sự cần thiết của những thực hành nội tại.

Greer cung cấp một ví dụ điển hình về “nhận thức tự nhiên/nature awareness” và tìm thấy sự cân bằng giữa thế giới bên trong và bên ngoài: 

“Ba thực hành tạo nên giai đoạn nhận thức tự nhiên của Chặng đường (của linh hồn) trên Trái đất/Earth Path đó là: Sự tĩnh lặng; tập trung và nghiên cứu. Sự tĩnh lặng đòi hỏi bạn phải chậm lại với nhịp độ của tự nhiên (nature’s pace). Ít nhất một lần/ tuần, hãy đi đến một nơi đầy những sinh vật “phi nhân”, tìm một chỗ ngồi và dành ít nhất mười phút ngồi yên và nhận thức mọi thứ xung quanh bạn. Thư giãn cơ thể, và chuyển sự chú ý của bạn ra khỏi những suy nghĩ và lo lắng thường làm tràn ngập tâm trí bạn. Hãy ngồi yên, lắng nghe và cảm nhận.

***
Người Celtic cổ đại đã để lại 6 giáo lý thiêng liêng cho nhân loại

Mặc dù khá mơ hồ về nhiều mặt, tuy nhiên cả hai cách giải nghĩa của Druidism cổ xưa và hiện đại đều có thể giúp ta có thể trở lại với sự kết nối với Sự linh thiêng, giúp chúng ta khơi dậy một hình thái trải nghiệm tâm linh mà chúng ta khao khát.

Cho dù bạn có thể tìm được một mảnh nhỏ ý tưởng hay một từng cảm hứng từ bài viết này, tôi hy vọng bạn có một con đường mới để khám phá trên hành trình tâm linh của mình.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về Druidism, tôi gợi ý bạn tìm đọc cuốn sách Druidry Handbook của Greer như một cách bắt đầu hiệu quả.

Tác giả bài viết Aletheia Luna. Chuyển dịch Ayako
Nguồn: innermostselves

Các nhà sư cho thấy Thiền định có thể thay đổi cấu trúc não bộ
Các nhà sư cho thấy Thiền định có thể thay đổi cấu trúc não bộ

Trong hầu hết thế kỷ trước, bộ não con người được các nhà tâm lý học coi là có cấu trúc cố định, không thể biến đổi. Tuy nhiên, quan điểm của họ đã trải qua một sự thay đổi căn bản trong vài thập kỷ qua, sau khi tiến hành một số thí nghiệm trên các nhà sư Phật giáo. 

Sau khi chụp quét não của những nhà sư này, các nhà khoa học bắt đầu nhận ra rằng bộ não con người không phải là “cố định”, mà là một cơ quan có khả năng thay đổi sau một khoảng thời gian.

Các nhà sư cho thấy Thiền định có thể thay đổi cấu trúc não bộ
Ảnh: Vision Times

Chụp quét não các nhà sư


Zoran Josipovic, một nhà khoa học nghiên cứu và giáo sư trợ giảng tại Đại học New York (Mỹ), đã tham gia vào nghiên cứu việc thiền định từ góc độ của khoa học thần kinh trong một thời gian dài. Trên thực tế, ông đã được tiến hành chụp quét cộng hưởng từ MRI nhiều nhà sư Phật giáo nổi tiếng trong suốt quá trình nghiên cứu của ông.

Các nhà sư cho thấy Thiền định có thể thay đổi cấu trúc não bộ
Zoran Josipovic, nhà khoa học thần kinh tại ĐH New York. Ảnh: Youtube

Các nhà sư cho thấy Thiền định có thể thay đổi cấu trúc não bộ
Zoran Josipovic tiến hành chụp quét não của một nhà sư. Ảnh: BBC

“Một lợi ích mà thiền định mang đến cho những người thực hành nó nhiều lần là thiền định giúp tăng cường khả năng tập trung. Nghiên cứu về việc thiền định … đã được chứng minh là rất hứa hẹn vì nó cho thấy bộ não có khả năng thay đổi cấu trúc để tối ưu hóa theo cách thức mà chúng ta chưa từng được biết đến trước đây”, ông Jos Josipovic nói trong một cuộc phỏng vấn với BBC .

Thông qua các nghiên cứu của mình, Josipovic phát hiện ra rằng khi các Phật tử thư giãn tâm trí, họ sẽ có thể tiến nhập vào trạng thái “bất nhị” (nonduality) hay còn gọi là “nhất thể” (oneness) với thế giới, một tâm thức hợp nhất giữa một người và môi trường chung quanh. Khi đó, mạng lưới thần kinh của họ thay đổi bằng cách “hạ thấp bức tường tâm lý ngăn cách họ với môi trường xung quanh”, theo lời Josipovic. Các nhà sư với kinh nghiệm lâu năm sẽ có khả năng giữ cho cả mạng lưới thần kinh bên trong và bên ngoài của họ hoạt động đồng thời trong khi thiền định.

Các nhà sư cho thấy Thiền định có thể thay đổi cấu trúc não bộ
Chụp quét não bộ của những người tập thiền lâu năm, như nhà sư trong hình, có thể giúp các nhà khoa học giải mã các bí ẩn về một mạng lưới thần kinh chủ chốt trong não bộ. Ảnh: Scienceline

Phần bên ngoài của mạng lưới thần kinh sẽ hoạt động khi một người xử lý các hoạt động bên ngoài như gõ máy tính, chơi game, v.v. Phần bên trong của não chỉ hoạt động khi con người tự xem xét chính bản thân họ, nhìn vào nội tâm của họ. Nói chung, cả hai mạng lưới này sẽ không hoạt động đầy đủ cùng một lúc ở những người bình thường. Tuy nhiên, các nhà sư lại có khả năng thực hiện điều này, vì thế họ có khả năng lớn hơn trong việc trải nghiệm trạng thái hợp nhất với môi trường xung quanh.

Thay đổi cấu trúc bộ não


Một số nghiên cứu khác về bộ não của các nhà sư, hầu hết trong họ được rèn luyện các kỹ thuật kiểm soát tâm trí, đã liên tục chỉ ra rằng bản thân những suy nghĩ của chúng ta có thể thay đổi bộ não theo nghĩa đen.

“Lý thuyết tu luyện, trong đó cho rằng việc tiếp xúc nhiều lần và lặp lại với các thông điệp xã hội sẽ có khả năng định hình các hệ thống niềm tin của chúng ta, không chỉ có các mối liên hệ sinh học rõ ràng có thể kiểm chứng, mà rằng việc thay đổi nhận thức của chúng ta về những thông điệp xã hội này không chỉ có thể thay đổi suy nghĩ của chúng ta, mà còn thay đổi cách chúng ta xử lý các thông điệp đó trên bình diện sinh học (qua xinap thần kinh), một cách vĩnh viễn. Điều đó có nghĩa là cấu trúc xã hội của cái thực tại tồn tại trước mặt không chỉ là một sự tương tác hai chiều, mà thực sự còn rất chân thực giữa bản thân và xã hội, hay môi trường xung quanh. 

Chúng ta thực sự đang tạo ra cái thực tại của bản thân mình, và chúng ta có thể thay đổi nó, giống như cách nó có thể thay đổi chúng ta”, theo tạp chí Tâm lý học ngày nay ( Psychology Today ) . Ngoài ra, như chúng ta đã biết, vật chất có tác động đến ý thức, nhưng qua kết quả thí nghiệm này, có vẻ như ý thức (suy nghĩ) cũng có tác động rất chân thực đến vật chất (cấu trúc não bộ) vậy.

Các nhà sư cho thấy Thiền định có thể thay đổi cấu trúc não bộ
Zoran Josipovic quan sát ảnh chụp não bộ trên máy vi tính. Ảnh: BBC

Vì vậy, lần tới khi bạn thấy một người bạn thân “phấn khích hơi quá” của mình bảo bạn hãy ‘suy nghĩ tích cực’ để khiến cuộc sống tốt đẹp hơn, thì hãy nhớ rằng họ không phải nói chuyện đùa. Những tuyên bố như vậy hiện giờ đã có một cơ sở khoa học nhất định. Kết quả này đã mở ra một số tiềm năng rất thú vị trong lĩnh vực tâm lý học.

Vì vậy, lần tới khi bạn thấy một người bạn thân “phấn khích hơi quá” của mình bảo bạn hãy ‘suy nghĩ tích cực’ để làm cho cuộc sống tốt hơn, thì hãy nhớ rằng họ không chỉ đơn giản khích lệ bạn đâu. Câu nói đó có một cơ sở khoa học nhất định đó. 

Một mặt, các kỹ thuật thiền có thể được phát triển để giúp những người bị trầm cảm, rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) hoặc nghiện ma túy vượt qua các suy nghĩ tiêu cực. Trên thực tế, rất nhiều trung tâm cai nghiện ma túy đã bao gồm thiền như một phần trong liệu pháp điều trị của họ. Trẻ em có sự tự tin thấp hoặc lo lắng xã hội có thể tiếp xúc với thiền ngay từ khi còn nhỏ để chúng không phải lớn lên với các vấn đề với lòng tự trọng. Các nhà tù đã bắt đầu đưa ra những bài học thiền định đã phát hiện ra rằng các tù nhân của họ sau khi tập đã trở nên bình tĩnh hơn.

Chúng ta mới chỉ bắt đầu thấy được trên bề mặt về việc kết hợp thiền định với ngành khoa học thần kinh có thể mang đến cho nhân loại những lợi ích to lớn nào. Khi nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này, chắc chắn chúng ta sẽ có khả năng bước sang một kỷ nguyên mới bình yên hơn, hạnh phúc hơn.

Quang Hải (theo Vision Times) - DKN

15/10/2020

Đại dương vũ trụ: Truyền thuyết về Nước nguyên thủy và Tạo hóa

Thế giới hình thành như thế nào? Sự sống bắt đầu từ đâu? Nhân loại từ đâu đến? Nhân loại sẽ đi về đâu? Những câu hỏi từ thiên cổ này khiến nhân loại trở nên bối rối không có lời giải đáp. Để tìm câu trả lời, hãy quay trở về với truyền thuyết sự hình thành thế giới của các dân tộc. 

Đại dương vũ trụ: Truyền thuyết về Nước nguyên thủy và Tạo hóa
Nước nguyên thủy là chất liệu để các vị thần sử dụng sáng tạo ra thế giới (Ảnh: Akash Sonker Pxhere)

Hầu như tất cả thần thoại truyền thống và dân gian trên thế giới cổ đại đều nói về thuở sơ khai và sự hình thành Trái đất. Các câu chuyện này vô cùng đa dạng và thường phản ánh tâm lý chung của dân tộc. Có một mô típ quan trọng xuất hiện trong tất cả các nền văn hóa cổ đại từ Mexico và Peru đến Ai Cập và Sumeria là: “nước nguyên thủy”.

Những đặc trưng nguyên thủy thường hỗn loạn, đảo lộn, và bất quy tắc. Chúng được mô tả nhất quán giữa các nền văn hóa truyền thống cổ xưa và thường được dân gian hiện nay gọi là ’Đại dương vũ trụ’. Thay vì sắp xếp các mô típ lại và làm nổi bật những điểm tương đồng bề mặt giữa chúng, chúng ta hãy tìm kiếm ý nghĩa chung đằng sau các câu chuyện để hiểu biết về nước nguyên thủy và sự hình thành thế giới. Nói cách khác, như nhà nhân chủng học Walter Evans-Wentz đã khuyên các sinh viên nghiên cứu thần thoại vào năm 1911:

“Khi nghiên cứu tôn giáo hoặc câu chuyện thần thoại, chúng ta nên tìm ra các điểm tương đồng giữa chúng, cho thấy mối liên hệ cơ bản để hợp nhất các hệ thống niềm tin và tâm linh; nhưng điều quan trọng hơn là phải cố gắng hiểu tại sao có sự tương đồng như vậy, ví dụ như những đạo lý chung đằng sau chúng”.

Nước nguyên thủy trong các nền văn hóa


Xuất hiện trong các thần thoại về sự hình thành thế giới cổ đại, nước nguyên thủy thường biểu hiện trạng thái hỗn loạn và mất kiểm soát. Trong nhiều thần thoại kiểu này, các tác động hình thành thế giới tương đồng với việc thiết lập trật tự cho sự hỗn loạn, hay nói cách khác là phân chia những vật chất nước vô trật tự đó thành các dạng thức hoàn chỉnh sau này.

Người Babylon có lưu truyền thần thoại về "sự hình thành thế giới người Babylon" hay Enûma Elish, rằng không có gì tồn tại ngay từ đầu ngoài Apsu và Tiamat nguyên thủy “hỗn loạn” không hình dáng, có mang nhân cách cả nam tính và nữ tính. Người Ai Cập gọi sự vô trật tự mang tính nước này là “nu”, hay “nun”, một trạng thái vô cùng dễ dàng để xuất hiện các gò đất nguyên thủy đầu tiên.

Thần thoại của Ấn Độ giáo về sự hình thành thế giới cũng mô tả một vùng biển nguyên thủy. Vị thần Vệ đà Prajapati xuất hiện từ vùng nước nguyên thủy và nói “ta sinh ra vì hình thái này cần sự hỗ trợ” (tạm dịch) ám chỉ sự rối loạn không định hình của các đại dương cổ đại.

Trong một câu chuyện khác, Prajapati được sinh ra từ một bông hoa sen nở rộ nổi trên mặt nước nguyên sinh. Theo truyền thống Vaishnava, vị thần tối cao Narayana, có tên là “người nghỉ ngơi trên nước” (tạm dịch), đã khởi đầu một chu kì sáng tạo thế giới trong khi mơ về "Đại dương sữa" (Ocean of Milk) nguyên thủy.

Cách nửa vòng trái đất, người dân Mixtec bản địa ở Mexico cũng mô tả trạng thái vô hình vô dạng của “bóng đêm" lỏng khi mới hình thành. Câu chuyện do Garcia dịch trong cuốn Origin de los Indias như sau: “Thuở xa xưa, thời còn hỗn nguyên, thế giới chìm trong bóng tối. Tất cả mọi thứ đều không mùi, và một thứ nước bao phủ tạo thành những chất bùn nhờn và dần dần sau đó đất phát lộ ra”.

Những câu chuyện hình thành thế giới của người Polynesia cũng đề cập đến nước nguyên thủy như là vật chất bản nguyên duy nhất có trước. Chẳng hạn, một câu chuyện cổ nói về vị thần Sáng thế Ta’aroa sinh ra từ một quả thiên trứng vũ trụ đặt trên mặt nước nguyên thủy, từ đó khởi đầu sự hình thành thế giới.

Các vị thần nguyên thuỷ hoặc các vị thần khác thường xuất hiện theo trình tự. Điều đó cho thấy các mô hình tự nhiên và chu kỳ hình thành thế giới được chia thành từng lô, duy trì bởi một trí tuệ thần thánh và sáng tạo. Trong các văn tự Kim tự tháp, các văn tự tôn giáo Ai Cập thuộc Vương triều thứ 5-8 ở Saqqara, thần Ra (thần Mặt trời và là vị thần tối cao) đã hạ giới và bình ổn nước, “đặt trật tự thay cho sự hỗn loạn”.
Đại dương vũ trụ: Truyền thuyết về Nước nguyên thủy và Tạo hóa
Thần Ra, thần Mặt trời và là vị thần tối cao đã xuống sắp xếp lại, quản trị Nước nguyên thủy để sáng tạo ra thế giới, theo người Ai Cập cổ đại (Ảnh: Jeff Dahl/Wikipedia CC BY-SA 4.0)

Đối với người Ai Cập, trật tự đồng nghĩa với Maat, khái niệm liên quan chặt chẽ đến sự thật và công lý. Bằng cách chinh phục nước, thần Ra đã thiết lập quyền lực tối cao của Maat. Vùng nước nguyên thủy hỗn loạn, mặc dù đã bị đánh bại nhưng đứng đối lập với Maat. Câu chuyện thần thoại này như một lời nhắc nhở con người về mối đe dọa liên tục của sự mất trật tự với trình tự mà các Pharaoh bảo vệ.

Nước nguyên thủy trong các thần thoại sáng thế thường xuất hiện tính chất hai mặt. Một mặt, chúng biểu thị trạng thái hỗn độn, không thể dự đoán được xu hướng và chu kỳ. Mặt khác, chúng đại diện cho tiềm năng vô hạn, là công cụ để Đấng sáng thế tạo ra vạn vật. Trong bài viết năm 2014 của mình trên tạp chí Khảo cổ học và Khảo cổ học Địa Trung Hải, nhà nghiên cứu Michael Rappenglück đã mô tả tính chất hai mặt của nước, trạng thái nguyên thuỷ của vũ trụ như sau: “Tính chất nguyên thủy không phân hóa của nước có khả năng sáng tạo và tái sinh thế giới, nhưng cũng có khả năng hấp thụ và hủy diệt các thực thể”.

Thần chú để chinh phục Nước nguyên thủy


Trong các thần thoại liên quan đến đại dương nguyên thủy, thần chú được coi là công cụ thần thánh quan trọng để sắp xếp, quản trị nước và bắt đầu quá trình sáng tạo thế giới. Có lẽ những ví dụ quen thuộc nhất của mô típ này đến từ Kinh thánh và thần học Hồi giáo.

Trong cuốn đầu của Kinh Cựu ước - phiên bản Kinh Thánh về vùng nước nguyên thủy vô hình và trống rỗng (1: 2 KJV) - có viết, Chúa “đã di chuyển trên mặt nước” (tạm dịch). Để bắt đầu sáng tạo thế giới, Chúa đã nói lời đầu tiên của mình - “Hãy ban ánh sáng” (1:3), thông qua đó quá trình thiết lập trật tự cho Trái đất và các vùng nước từ sức mạnh bắt đầu. Qur'an cho biết rằng Allah “đã tạo ra mọi sinh vật từ nước”, (21:30). Để sáng tạo ra vạn vật, Allah nói với Trái đất và bầu trời, yêu cầu chúng “hãy phối hợp cùng nhau, dù là tự nguyện hay không tự nguyện” (tạm dịch) (41:11).

Đại dương vũ trụ: Truyền thuyết về Nước nguyên thủy và Tạo hóa
Trong Kinh thánh, Chúa đã mang nước và ánh sáng đến Trái đất bằng câu thần chú. (Ảnh: Vitaliy Green Pxhere)

Trong câu chuyện sáng tạo thế giới của người Babylon, Ea đã niệm một câu thần chú mạnh mẽ, "thần chú thuần khiết (hoặc trắng tinh hoặc thần thánh)” để kết thúc nước nguyên thủy dữ dội của Apsu.
Theo Meek và Favard-Meek viết trong quyển Cuộc sống hàng ngày của các vị thần Ai Cập, câu chuyện về thần thoại sáng thế của Ai Cập đã được bảo tồn trong một bản giấy cói từ thời cổ đại ở Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan. Vị thần đứng đầu Thoth đã sử dụng sức mạnh của thần chú để thực hiện quá trình sáng tạo thế giới như sau:

“Ta là Thoth, chủ nhân của những lời thần thánh ... Ta biết những gì được che giấu trên bầu trời không thể tiếp cận trên trái đất và ẩn trong Đại dương nguyên thủy. Ta là Thần tạo ra bầu trời, nhân loại có nguồn gốc từ núi..., ta tạo ra các vị thần và con người sinh sống”.

Các câu thần chú được bảo tồn trong truyền thuyết Lakota. Một câu chuyện chứng thực được rằng Đấng tối cao sử dụng sức mạnh của bài hát theo một cách đặc biệt để nhào nặn và định hình bùn, sau đó đưa vào nước để tạo ra vùng đất khô.

Hơn nữa, những lời cầu nguyện của người Peru đã tuyên bố: Đấng sáng thế đã niệm câu thần chú, hay 'ñisca', cho sự hình thành thế giới: “Hãy là trái đất và thiên đàng, hãy là ngày, hãy là đêm”,... Trong nghiên cứu Thần thoại Đại dương năm 1916, nhà nhân chủng học người Mỹ Roland Dixon đã so sánh câu chuyện này của Peru với một huyền thoại sáng thế của người Maori:

"Lo cư ngụ trong không gian rộng lớn.

Vũ trụ chìm trong bóng tối, với nước ở khắp mọi nơi,

Không có ánh bình minh, không rõ ràng, không ánh sáng.

Và ngài bắt đầu phán - 'Bóng tối! Hãy trở thành một bóng tối mang theo ánh sáng'.

Và ngay lập tức ánh sáng xuất hiện.”

Các nền văn hoá cổ đại khắp thế giới đều coi việc sử dụng thần chú như một cơ chế trọng yếu để sáng tạo ra vạn vật. Chúng ta không thể liệt kê ra tất cả câu thần chú. Tuy nhiên, tìm hiểu những ví dụ thần thoại trên đã đủ cho chúng ta nhận ra Đấng sáng thế luôn dùng sức mạnh của thần chú để thiết lập trật tự cho nước nguyên thuỷ.

Nghiên cứu sâu hơn sẽ thấy rằng sức mạnh sáng tạo của thần chú đã đi vào tập tục xã hội và tôn giáo truyền thống của các nền văn hóa, từ những câu hát phép thuật hoặc câu nói trong văn tự Kim tự tháp cho đến những lời nguyền và lời chúc phúc của thơ ca Celtic. Thực tế này chứng minh một niềm tin to lớn rằng thần chú có thể tiếp tục thay đổi thế giới vật chất như trong quá trình sáng tạo thế giới.

Đại dương vũ trụ: Truyền thuyết về Nước nguyên thủy và Tạo hóa
Văn tự Kim tự tháp được ghi trên tường phòng kín ở Kim Tự Tháp Teti's, Saqqara. (Conscious / Public Domain )

Tại sao là nước?


Như chúng ta đã thấy, Nước nguyên thủy đại diện cho các khái niệm tương đối nhất quán giữa các nền văn hóa cổ đại và đóng một vai trò quan trọng, nền tảng trong thần thoại sáng tạo thế giới, nhưng tại sao nước lại cần thiết làm 'chất liệu' nguyên thủy để sáng tạo thế giới, thành phần cơ bản của vũ trụ?

Theo Aristotle’s ‘ Metaphysics' (Siêu hình' của Aristotle), Thales - nhà triết học Hy Lạp - tin rằng nguyên lý căn bản chính là nước. Ông nhận thức như vậy là do quan sát được chất dinh dưỡng của mọi sinh vật đều ẩm ướt, cũng như nhiệt lượng được tạo ra và duy trì bởi độ ẩm đó.

Trong cùng tác phẩm trên, Aristotle đưa ra một quan sát thú vị khác: gắn nước đối với sự hình thành các vị thần và quá trình sáng tạo thế giới: “Một số người nghĩ rằng thậm chí những người cổ đại, và những hình thái đầu tiên các vị thần tạo ra, đều có chung bản chất; họ sáng tạo ra Oceanus và Tethys như cha mẹ của các vị thần nguyên thủy, và mô tả lời thề của các vị thần được tạo ra từ nước, đặt tên là Styx….”

Bản chất thần bí tự nhiên của nước khiến nó được sử dụng trong các nghi thức thanh tẩy, rửa tội cho đến sự hoà hợp với các kiến trúc linh thiêng. Người ta cho rằng nhiều ngôi đền trên khắp Cận Đông được xây dựng trên các con suối tự nhiên, một trong số các con suối đó hiện nay vẫn đang chảy ra từ các ngôi đền.

Những con suối này đại diện cho nước nguyên thuỷ trong khi những ngôi đền phía trên chúng biểu thị trật tự của vũ trụ, và là nơi ở của các vị thần. Chẳng hạn, nhà sử học La Mã Tacitus mô tả Đền thờ Jerusalem được xây dựng trên một con suối không thể cạn kiệt, trong khi Eusebius đã viết rằng ngôi đền có chứa “một dòng suối dồi dào tự nhiên từ bên trong nó”.

Các đền thờ nữ thần Mesopotamian Ishtar cũng được xây dựng ở miệng suối tự nhiên, cho thấy mối quan hệ giữa nữ thần với dòng nước của sự sống. Đền thờ Apollo ở Didyma cũng vậy, được xây dựng để bao quanh miệng của một con suối, mang sức mạnh phi thường cho ngôi đền.

Một ví dụ khác xuất phát từ kiến trúc đền thờ của Ấn Độ cổ đại, nơi các hồ chứa nước đặc biệt gọi là ‘kalyani’, được duy trì trong các quần thể đền thờ để thực hiện nghi thức rửa tội trước khi cầu nguyện.

Đại dương vũ trụ: Truyền thuyết về Nước nguyên thủy và Tạo hóa
Đền Apollo tại Didyma. (Hekataios von Milet / CC BY-SA 4.0 )

Hiểu về nước nguyên thủy như một mô típ trong các huyền thoại sáng thế mang đến cái nhìn sâu sắc hơn đối với mỗi nền văn hóa cổ đại, và chia sẻ nhận thức về bản chất của thế giới thuở sơ khai.

Nó cũng cung cấp một thước đo sự hiểu biết về kiến trúc và phong tục xuất phát từ sự tôn kính nước nguyên thủy, và đặt ra câu hỏi liên quan đến sự liên hệ giữa các nền văn hóa và sự truyền bá văn hóa.

Quả thực, Nước được xem là nguồn gốc của sự sống, và không có gì ngạc nhiên khi trong thần thoại nó trở thành nguyên liệu cơ bản được Sáng thế chủ sử dụng tại thời điểm sáng tạo thế giới.

Những truyền thuyết này có cùng một ý nghĩa, thậm chí với cả những nền văn hóa cách nhau cả nửa địa cầu. Nhưng nguyên nhân cho những điểm tương đồng này vẫn là chủ đề tranh cãi “nảy lửa" của các nhà khoa học kể từ khi coi thần thoại học so sánh như một lĩnh vực/môn học.

Nguồn: NTDVN/Ancient Origin

14/10/2020

Bí ẩn người Celt: 3 biểu tượng mạnh mẽ nhất và ý nghĩa tiềm ẩn của chúng
Bí ẩn người Celt: 3 biểu tượng mạnh mẽ nhất và ý nghĩa tiềm ẩn của chúng

Người Celt là một nhóm người cổ đại cực kỳ tâm linh. Họ “tìm thấy” ý nghĩa biểu tượng trong tất cả các đồ vật hàng ngày xung quanh họ và  Mandala là cách thể hiện niềm tin của họ.

Mandala là biểu hiện vật chất của biểu tượng của họ trong một định dạng nghệ thuật.

Mandala được cho là một phương pháp xúc giác để kết nối nguồn gốc và tổ tiên của người Celt. Hình dung về những giấc mơ, bắt chước các linh ảnh, và do đó làm phong phú thêm truyền thống và văn hóa - đó là những cách sử dụng các biểu tượng mandala cho người Celt.

Các biểu tượng của Mandala đã từng là tiêu điểm của người Celt và giúp họ đạt đến giác ngộ. Họ đã tạo ra sự cân bằng giữa bên trong và bên ngoài của những người thực hành chúng. Dưới đây là 3 thứ nổi tiếng và mạnh mẽ nhất vẫn còn thịnh hành trong thời gian gần đây:

Nút thắt Celtic


Bí ẩn người Celt: 3 biểu tượng mạnh mẽ nhất và ý nghĩa tiềm ẩn của chúng

Nút thắt Celtic là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất của người Celtic, tồn tại qua nhiều thời đại. Sự phổ biến của nó trên nhiều loại hình nghệ thuật chủ yếu là do tính phổ biến của nó. Các nút thắt có mức độ phức tạp của chúng và ý nghĩa cơ bản mà một liên kết với các nút thắt của người Celtic là sự liên kết với nhau. Điều này bắt nguồn từ niềm tin của người Celt rằng cuộc sống vô tình gắn liền với sự vĩnh hằng.

Khi bạn tập trung vào một nút thắt của người Celtic, hãy theo dõi cách nó chảy và bạn sẽ có thể tạo ra những kết nối trực quan với hành trình cuộc sống của chính mình. Biểu tượng Celtic này cũng mang ý nghĩa truyền thống của người Celt là kết nối với tổ tiên của một ai đó.

Cây sự sống


Bí ẩn người Celt: 3 biểu tượng mạnh mẽ nhất và ý nghĩa tiềm ẩn của chúng

Tree of Life là một biểu tượng mandala của người Celtic. Cây cối rất được người Celt tôn trọng và ngưỡng mộ và họ liên quan đến cây cối trong nhiều biểu tượng truyền thống của họ. Do sự phong phú của nó trong môi trường xung quanh quần đảo ngay lập tức, cây sồi đặc biệt được đánh giá cao hơn. Các Druid (Một druid là một thành viên của tầng lớp cao cấp trong nền văn hóa Celt cổ đại) sẽ tổ chức các bài giảng của họ trong những lùm cây sồi vì các từ Celtic tương ứng với "trí tuệ" và "gỗ" tương tự nhau, và họ cũng không nhận thấy đây là một biểu tượng.

Trong đức tin của người Celt, Cây Sự sống là một mô tả của toàn bộ Vũ trụ. Rễ đâm sâu vào tự nhiên trong khi cành vươn lên trời. Sự sống của tất cả chúng sinh được cho là được che chở trong Cây Sự sống và do đó người ta tin rằng đó là Người mẹ nuôi dưỡng tất cả. Sự xen kẽ của các cành cây biểu thị tính chất chu kỳ của cuộc sống.


Biểu tượng Triquetra


Bí ẩn người Celt: 3 biểu tượng mạnh mẽ nhất và ý nghĩa tiềm ẩn của chúng

Biểu tượng Triquetra “ba góc” thường biểu thị Ba Ngôi Đức Thánh Cha, Con và Đức Thánh Linh. Nhưng biểu tượng này cũng được giải thích trong nhiều bộ ba khác: tâm trí, tinh thần và cơ thể; hiện tại, tương lai và quá khứ; cha, mẹ và con; bảo quản, phá hủy và sáng tạo, v.v.

Sự vô hạn của những dòng chữ có thể được đọc là sự vô hạn của cuộc đời chúng ta. Vòng tròn thường được vẽ xung quanh Triquetra là sự bảo vệ mà Thần linh cung cấp cho mọi sự sống. Bạn có thể kết nối tâm linh của riêng mình với bộ ba được đề cập và truyền năng lượng để làm phong phú thêm cuộc sống của bạn.

Trong khi người Celt để lại truyền thống của họ để chúng ta có được từ đó, chúng ta phải luôn tôn trọng họ. Trong khi bạn sử dụng những điều này để nâng cao tâm linh của mình, đừng quên bày tỏ lòng biết ơn của bạn với Vũ trụ.

Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị

Thiên tài lập dị Nikola Tesla là nhà khoa học tiên phong cho các bước tiến khoa học ấn tượng của nhân loại trong thế kỷ XX, ví dụ công nghệ đài phát thanh, động cơ, điện, và đặc biệt là công nghệ dòng điện xoay chiều đang cung cấp năng lượng cho hầu hết thế giới ngày nay. 

Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Nikola Tesla: “Con người đáng lẽ được hưởng Năng lượng miễn phí và Tàu vũ trụ” (Ảnh: Pxhere)

Nhà phát minh người Mỹ gốc Serbia Nikola Tesla nổi tiếng với những phát kiến phản ánh tầm nhìn tương lai sâu rộng. Tuy nhiên, ông cũng có những phát minh mà người đời không công nhận do thiếu thực tế hoặc kỳ quái, không khả thi trong điều kiện công nghệ tại thời điểm đó, hoặc không thể theo đuổi trong thời gian dài.

Dưới đây là những ý tưởng điên rồ, không thực tế nổi tiếng khiến người ta gán cho ông biệt danh "bác học khùng".

1. NĂNG LƯỢNG KHÔNG DÂY


Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Thiết kế Hệ thống năng lượng không dây quốc tế Tesla (Ảnh: Bibliotecapleyades)

Khi làm việc với radio, lò vi sóng và tạo ra cuộn cảm Nikola Tesla, ông đã nghĩ về khả năng tạo ra hệ thống truyền dẫn không dây nhằm phân phối năng lượng trên khoảng cách rộng.

Năm 1901, ông có một bước tiến lớn để đạt được mục tiêu này khi nhận được tài trợ từ nhà tài chính J.P. Morgan để xây dựng một nhà máy điện không dây cao 56m ở Shoreham, Long Island, New York được gọi là Tháp Wardenclyffe.

Ngoài việc có thể truyền tin nhắn qua Đại Tây Dương, ông đã hình dung tòa tháp là một cơ sở viễn thông không dây có thể cạnh tranh với hệ thống điện báo dựa trên radio của Guglielmo Marconi trong khi cũng có thể thắp sáng toàn bộ Thành phố New York.

Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Tháp Wardenclyffe cao hơn 56m ở Shoreham, Long Island, New York. (Ảnh: Getty).

Thật không may, Morgan đã quyết định ngừng tài trợ cho dự án và vì Tesla không thể tìm kiếm những người tài trợ khác, ông đã phải từ bỏ dự án hoàn toàn chỉ sau vài năm. Tháp Wardenclyffe không thể hoạt động như Tesla dự định.

2. MÁY BAY ĐIỆN VẬN TỐC SIÊU ÂM


Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Thiết kế máy bay siêu âm chạy điện của Tesla. (Ảnh: Collective Evolution)

Sau thất bại của Wardenclyffe Tower, Tesla đã chú ý đến ngành hàng không, ông hi vọng có thể sử dụng tốt kiến thức của mình về kỹ thuật điện và cơ khí để phát triển một máy bay siêu thanh chạy bằng điện.

Năm 1919, nhà khoa học đã thảo luận trong một bài báo trên tạp chí Reconstruction (Tái thiết) về việc chiếc máy bay này có thể vận chuyển hành khách từ thành phố New York đến London chỉ trong ba giờ. Theo Tesla, việc cung cấp năng lượng cho những chiếc máy bay tốc độ cao là hầu như không giới hạn, vì những chiếc máy bay này sẽ được cung cấp năng lượng điện từ các nhà máy điện.

Về việc cung cấp điện này sẽ được thực hiện như thế nào, Tesla đã lên kế hoạch sử dụng thiết kế truyền năng lượng không dây của mình cho các máy bay trên. Nếu thành công, nó sẽ xóa bỏ hoàn toàn việc phương tiện bay phải mang theo nhiên liệu. Đáng tiếc, dự án cũng không được hoàn thành.

3. ROBOT HÌNH NGƯỜI


Năm 1898, Nikola Tesla tham gia trình diễn tại một triển lãm điện ở Madison Square Garden, New York. Đó là một chiếc thuyền điều khiển từ xa bằng radio, một số người thời đó cho rằng nó có thể là vũ khí điều khiển từ xa đầu tiên trên thế giới.

Tuy nhiên, Tesla nhìn thấy tiềm năng của chiếc thuyền ở khía cạnh khác. Ông coi đây là bước đầu tiên trong việc phát triển một loại robot tự động có thể thay công nhân làm hầu hết các công việc nặng nhọc. Ông gọi mô hình của mình là “Telautomation” và đề nghị cung cấp phát minh này làm vũ khí cho chính phủ Mỹ, Anh.

Ngày nay, ý tưởng này của Tesla được nhiều người xem là tiên phong cho ngành khoa học robot. Số khác cho rằng ông đã đi quá xa so với thời đại; vài thập kỷ sau đó, ý tưởng này mới có thể ứng dụng trong thực tiễn.

4. CAMERA ĐỌC Ý NGHĨ CON NGƯỜI


Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Ý tưởng về camera đọc suy nghĩ được cho là xuất phát từ căn bệnh ảo giác lúc nhỏ của Nikola Tesla. (Ảnh: Sciencevibe)

Tại một số thời điểm, Nikola Tesla muốn phát minh ra cỗ máy có thể đọc được suy nghĩ mọi người và chiếu ra dưới dạng phim ảnh.

Trong bài báo xuất bản năm 1933, ông tiết lộ một trong những dự án ông đã thực hiện nhiều năm qua là chế tạo thiết bị chụp ảnh tư tưởng con người. Lần đầu nghĩ ra ý tưởng này vào năm 1893, ông tin rằng hình ảnh đã hình thành trong suy nghĩ được phản ánh trên võng mạc, sau đó có thể được xem hoặc chụp lại. Điều này có thể do ông bị ảo giác từ nhỏ và có thể nhìn thấy những hình ảnh mà mình tưởng tượng ra.

Tesla chưa bao giờ có đủ tiền để chế tạo chiếc máy ảnh tư tưởng như ông nghĩ. Nhưng các nhà khoa học ngày nay đã khám phá ra cách chuyển đổi tín hiệu não thành những hình ảnh.

5. KHAI THÁC TIA VŨ TRỤ


Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Ý tưởng khai thác năng lượng miễn phí từ các hạt nguyên tử trong vũ trụ (Ảnh: giaoduc.edu.vn)

Nikola Tesla từng nghĩ đến ý tưởng khai thác nguồn năng lượng miễn phí đến từ những hạt nguyên tử - các loại tia đầy rẫy trong vũ trụ. Ý tưởng này bị coi là khoa học giả tưởng với hầu hết các nhà nghiên cứu vì nó không thực tế.

Nhưng Nikola Tesla lại tin rằng có thể thiết kế một chiếc máy để khai thác nguồn năng lượng này và chấm dứt vấn đề khan hiếm năng lượng trên Trái Đất.

Các hạt vũ trụ siêu nhỏ này liên tục rơi xuống mặt đất với tốc độ nhanh hơn ánh sáng; ông nghĩ có thể "bắt" được chúng và chuyển đổi thành năng lượng để sử dụng. Rất tiếc, phát minh của ông không trở thành hiện thực.

6. SÓNG THẦN NHÂN TẠO


Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Nikola Tesla tin rằng khoa học nắm giữ chìa khóa trong việc ngăn chặn các cuộc xung đột và chiến tranh trong tương lai (Ảnh: beyondsciencetv)

Năm 1907, New York World tiết lộ, Nikola Tesla đề xuất sử dụng sóng radio kích nổ bom trên biển, điều đó sẽ đồng thời kích hoạt sự hình thành sóng thủy triều lớn có khả năng lật úp hạm đội tàu địch.

Cụ thể, sóng thủy triều nhân tạo sẽ khiến hải quân trở nên vô dụng, giống như những chiếc thuyền giấy trôi nổi trong bồn tắm. Một số người lúc đó coi đây là công cụ giúp nhân loại tiến gần hơn đến hòa bình thế giới. Với tính huỷ diệt khủng khiếp, nó có thể tiêu diệt cả 2 bên tham chiến. Vì vậy, không bên nào dám gây chiến.

Tuy sóng thuỷ triều chưa bao giờ được thực hiện, các nhà khoa học vẫn nuôi dưỡng ý định phát triển vũ khí đủ mạnh để răn đe chiến tranh. Vài năm sau đó, vũ khí hạt nhân đã xuất hiện.

7. TIA TỬ THẦN


Điện không dây, tia tử thần là 2 trong 8 phát minh của Nikola Tesla, nhà bác học lập dị
Dù có những ý tưởng về vũ khí hủy diệt, Nikola Tesla vẫn mong muốn phát minh của mình góp phần cho hòa bình thế giới. (Ảnh: giaoduc.edu.vn)

Vào những năm 1930, Nikola Tesla khi đó đã 70 tuổi. Chia sẻ với New York Times, ông cho biết đã phát minh ra thứ có thể khiến đội quân hàng triệu người chết trong chớp mắt.

Công nghệ này gia tốc hạt thuỷ ngân nhanh hơn 50 lần so với tốc độ âm thanh trong buồng chân không, tạo ra một chùm tia mạnh mẽ có thể “bắn hạ 10.000 máy bay của đối phương ở khoảng cách hơn 400 km”.

Vũ khí quân sự này được gọi là “Tia tử thần”, nhưng bản thân Tesla vẫn thích gọi là “Tia hòa bình”, vì có thể giúp các nước chống xâm lược.

Ông cố gắng tìm một chính phủ sẵn sàng tài trợ cho việc xây dựng tia tử thần, và quốc gia duy nhất tài trợ cho ý tưởng của ông là Liên Xô. Các cuộc thử nghiệm diễn ra vào cuối những năm 1930, song không rõ có thành công hay không vì ông qua đời không lâu sau đó.

8. ĐỐT LẠNH


Phát minh này hy vọng sẽ thay thế được xà phòng và nước trong sinh hoạt. Tesla muốn thay thế điện với nước vì điện là kẻ thù lớn nhất của vi trùng.

Sự đốt lạnh nghĩa là đốt cháy nhưng không gây bỏng, người ta sẽ đứng trên một tấm kim loại và được phủ trong nguồn điện luân phiên đến 2,5 triệu volt giống như một ngọn lửa trùm lên cơ thể.

Phương pháp này hiệu quả vì da người có tính dẫn điện. Nó còn có tác dụng chữa bệnh vì nguồn điện mạnh có thể sinh ra lượng lớn khí ozon khử trùng có lợi cho sức khỏe.

Vấn đề chi phí và an toàn cho người sử dụng đã biến ý tưởng "đốt lạnh" thành mơ hồ.

KẾT LUẬN


Nhiều người xem Tesla là nhà khoa học điên rồ. Tuy nhiên, những người ủng hộ cho rằng ông xuất sắc hơn hết thảy những nhà phát minh nổi tiếng khác trong thời đại của mình như Thomas Edison hay Alexander Graham Bell.

Sau khi Tesla qua đời, dư luận vẫn không công nhận những thành tựu khoa học ít được biết đến của ông. May mắn thay, nhiều phát kiến và ý tưởng của ông đã được công bố trong những năm gần đây. Công chúng từ đó đánh giá cao hơn di sản mà cha đẻ dòng điện xoay chiều đã để lại

Nguồn : NTDVN

12/10/2020

10 thông tin cá nhân bạn nên xóa ngay trên Facebook!

Facebook là nơi chúng ta có thể chia sẻ hình ảnh, trạng thái và kết nối với mọi người dễ dàng hơn nhưng việc công khai quá nhiều thông tin cá nhân trên mạng xã hội này cũng đem đến những rủi ro không hề nhỏ.

10 thông tin cá nhân bạn nên xóa ngay trên Facebook!

Sự phổ biến của Facebook trên toàn cầu là một hiện thực không cần bàn cãi. Với khoảng 2,23 tỷ người dùng (tính đến tháng 4/2018), đây là mạng truyền thông xã hội phổ biến nhất hiện có. Tại Việt Nam, con số này đã lên tới 58 triệu, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia có lượng người dùng lớn hàng đầu thế giới.

Facebook là nơi bạn có thể đăng bài, chia sẻ hình ảnh cá nhân, cuộc sống để kết nối tốt hơn với gia đình, bạn bè. Những lợi ích mà Facebook đem tới quả là vô cùng to lớn nhưng bạn đã bao giờ dừng lại để nghĩ về những mối nguy hại khi đăng quá nhiều thứ lên mạng trực tuyến. Vụ bê bối rò rỉ dữ liệu 55 triệu người dùng Facebook cuối năm 2018 vừa qua chính là hồi chuông cảnh báo cho những rủi ro tiềm ẩn về riêng tư trên mạng xã hội lớn nhất hành tình này.

Để hạn chế những rủi ro đó, bạn nên nhanh chóng xóa ngay những thông tin này trên tài khoản Facebook cá nhân của mình:

1. Tình trạng hôn nhân của bạn


Rõ ràng, có những tình huống mà Facebook được cho là nơi an toàn để bạn công khai mình đã kết hôn nhưng hãy nhớ rằng nhiều người trên mạng xã hội vẫn đang trong vòng hẹn hò và chưa có gia đình. Bởi vậy, trong khi bạn muốn chia sẻ khoảnh khắc hẹn hò hạnh phúc thì tốt nhất là giữ kín thông tin này, điều tốt cho bạn và cả những người thương yêu.

2. Hình ảnh của trẻ em


Hãy nhớ rằng luôn luôn suy nghĩ cẩn thận trước khi đăng ảnh của một trẻ em lên mạng. Một mặt, đứa bé này có thể còn quá nhỏ để đồng ý với việc hình ảnh của chúng được công khai trên internet. Mặt khác, nếu bức ảnh rơi vào tay kẻ săn mồi, đứa trẻ đó có thể sẽ gặp nguy hiểm. Tại sao không tránh những điều này để giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể xảy ra?

3. Trường học của con bạn


Điều này tương tự như ý trên. Hãy thận trọng trong việc chia sẻ thông tin về đia điểm con bạn học hay vui chơi. Vì thật không may, những điều đơn giản đó có thể trở thành dữ liệu cho các đối tượng không mong muốn có khả năng truy cập hoặc tiếp cận con bạn.

4. Hình ảnh không phù hợp


Facebook là nơi đơn giản để kết nối với cộng đồng nhưng nên nhớ rằng nhiều nhà tuyển dụng cũng tìm đến trang cá nhân của bạn để xác định liệu bạn có phải là một nhân viên tiềm năng mà họ mong muốn hay không. Và chắc hẳn một tài khoản chứa đầy ảnh say sỉn, tiệc tùng hoặc những cuộc chơi nguy hiểm sẽ không phải là điều tốt cho hồ sơ hay CV của bạn!

5. Những người không thực sự là bạn


Không chỉ đơn thuần là mạng xã hội, sự phổ biến của Facebook cũng vô hình chung biến nơi này trở thành một cuộc thi về độ nổi tiếng. Không quan trọng số lượng bạn bè là bao nhiêu nhưng việc chấp nhận yêu cầu kết bạn ngẫu nhiên từ người lạ có thể dễ gây nên nhiều rủi ro, đặc biệt là nếu bạn đang chia sẻ nhiều thông tin cá nhân về bản thân, cuộc sống hoặc nơi ở.

6. Tất cả thông tin về tín dụng, ngân hàng


Người dùng hiện nay đã dần cảnh giác và quan tâm hơn đến rủi ro rò gỉ thông tin cá nhân nhưng điều này cũng rất dễ bị lãng quên hoặc vô tình bỏ qua. Đặc biệt là khi mua hàng thông qua Facebook, hãy nhớ luôn xóa thông tin thẻ ngân hàng của bạn, nếu không chúng có thể được lưu trữ trực tuyến và bị đánh cắp từ tin tặc.

7. Số điện thoại


Chúng ta đôi khi vẫn gặp những cuộc gọi hay tin nhắn ngoài ý muốn và tự hỏi "làm thế nào họ biết được số điện thoại của mình?". Có thể đó là từ một nguồn khác, tuy nhiên khả năng họ khai thác được những gì bạn cung cấp trên tài khoản Facebook cũng không hề nhỏ, nếu không nói là rất dễ dàng.

Do vậy, hãy chỉ cung cấp số điện thoại cá nhân cho những người bạn quen biết thay vì công khai chúng trên mạng xã hội để tránh những cuộc gọi gây khó chịu hoặc những rủi ro tiềm ẩn khác.

8. Bài viết bạn được gắn thẻ


Ảnh hoặc bài đăng mà bạn đã được gắn thẻ có thể được nhìn thấy bởi nhiều người hơn bạn nghĩ, tùy thuộc vào các cài đặt quyền riêng tư của những người khác. Bởi vậy nên tháo gỡ bản thân khỏi những hình ảnh hoặc bài viết bạn cho là tiêu cực.

9. Ngày sinh


Mặc dù lời chúc mừng của những người từ thân quen đến xã giao có thể đem lại cho bạn chút niềm vui vào ngày sinh nhật nhưng việc đưa ra thông tin ngày sinh thực sự sẽ giúp kẻ trộm có khả năng nhận dạng dễ dàng và truy cập các thông tin chính về bạn.

10. Vị trí của bạn


Mặc dù đôi khi thật thú vị khi cho mọi người biết mình đang ở đâu hay làm gì nhưng đó cũng là cơ hội để kẻ xấu biết rằng ngôi nhà của bạn trống rỗng và dễ dàng đột nhập.

Bạn nên chuyển trạng thái của những lần "Check-in" mang tính riêng tư cao hơn thay vì để chúng ở chế độ "công cộng". Nhưng cũng có vài điểm bạn nên tuyệt đối không "Check in", ví dụ như khi đưa những đứa trẻ đến trường hoặc khi bạn đi ra nước ngoài.

Nguồn: Nhịp sống kinh tế

09/10/2020

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường

Hàng loạt những câu chuyện kì lạ, những sự kiện và hiện tượng huyền bí liên quan đến các Thánh tích trong Công giáo cho đến nay vẫn không hề mất đi tính thời sự.


Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường

Phép lạ thường được coi như bằng chứng xác thực những lời dạy trong Công giáo. Theo tín ngưỡng Công giáo, mục đích của Chúa khi thực hành các phép lạ là để thuyết phục những người hoài nghi về sự tồn tại chân thực của Thần. Trên thực tế, đối với Giáo hội Công giáo, một phép lạ chỉ được ghi nhận là một phép lạ khi nó góp phần củng cố đức tin và xác minh tính chân thực của các lời dạy Công giáo.

Lịch sử Công giáo đã ghi nhận rất nhiều hiện tượng thần kỳ, một số trong đó không phải được thực hiện bởi Chúa Giê-su hay các Thánh đồ, mà bởi một số thánh tích. Thánh tích (hay Thánh vật) là một phần thân thể (ví dụ như xương), bộ áo của các thánh nhân, hoặc thứ gì đó mà họ sở hữu, được giữ lại sau khi họ qua đời và được tôn kính trong tôn giáo. Rất nhiều thánh tích từ những thời kỳ cổ xưa trong Kinh Thánh đã được lưu giữ và bảo quản ở những nơi bí mật, sau này được tình cờ phát hiện bởi các tín hữu.
Bỏ sang một bên các nghi vấn xoay quanh những thánh tích này, dưới đây là 5 di vật Công giáo được cho là sở hữu các năng lực siêu thường.

1. Tấm huy chương của Đức mẹ

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Tấm huy chương của Đức mẹ Mary. Ảnh: Novena.com

Thánh vật đầu tiên trong danh sách là Chiếc huy chương Thần kỳ. Sơ Catherine Labouré, một nữ tu người Pháp từ thế kỷ 19 ở Paris, đã nhìn thấy hình tượng Đức Mẹ hiển linh trong nhà thờ. Bà đã truyền đạt lại thông điệp của Đức Mẹ, rằng hãy làm ra những chiếc huy chương mang dấu ấn của Người, và những người đeo chiếc huy chương này quanh cổ sẽ nhận được phước lành to lớn.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Đức Mẹ hiển linh, truyền đạt thông điệp cho Sơ Catherine Labouré về việc làm chiếc huy chương in dấu ấn của Người. Ảnh: jeanmheimann.com

Sau 2 năm quan sát và ghi nhận hành vi, thông điệp của Sơ Catherine rốt cục đã được chấp thuận, công việc đúc huy chương được trao cho thợ rèn Adrien Vachette.

Những chiếc huy chương đầu tiên được chế tạo vào năm 1832 và được phân phát ngay tại Paris. Theo như câu chuyện được kể lại, phước lành mà Đức mẹ Mary đã hứa bắt đầu xuất hiện gần như ngay tức khắc đối với những ai đeo tấm huy chương, và không lâu sau, người dân Pháp bắt đầu xôn xao để có cho mình một “Tấm huy chương Thần kỳ”. Kể từ đó, việc đeo huy chương in hình Đức Mẹ đã lan truyền sang các nơi khác trên thế giới, và cho đến nay, nhiều tín đồ sùng đạo vẫn tiếp tục đeo Tấm huy chương Thần kỳ này, họ tuyên bố đã nhận được phước lành đặc biệt từ Chúa.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Tấm huy chương Thần kỳ. Ảnh: Children’s Rosary

Sơ Catherine mất năm 1876, thọ 70 tuổi. Sau nhiều năm, thân thể bà vẫn như mới, không hề có dấu hiệu bị phân hủy (gọi là nhục thân bất hoại), do đó vào năm 1947 (71 năm sau khi mất) bà đã được phong thánh bởi Giáo hoàng Pius XII. Thân thể bà hiện được đặt trong lồng kính trong Nhà nguyện Đức Mẹ tại số 140 Rue du Bac, Paris, bên dưới một trong những nơi Đức mẹ từng hiển linh trước mặt bà.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Trái: Thánh Catherine Labouré, Phải: Nhục thân bất hoại của Thánh Catherine Labouré. Ảnh: ĐKN

2. Tấm áo choàng thần kỳ in hình Đức mẹ Guadalupe

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường

Tấm áo choàng thần kỳ in hình Đức Mẹ Guadalupe (một tước hiệu của Đức Mẹ Mary – ấn chứng cho sự hiển linh của Đức mẹ ở Guadalupe, Mexico) là chủ đề đã thu hút nhiều nghiên cứu từ năm 1751 và rất nhiều đánh giá khoa học trong những năm gần đây. Tuy nhiên, cho tới nay, di vật này vẫn làm giới khoa học đau đầu.

Giáo hội Công giáo kỷ niệm Lễ hội Đức mẹ Guadalupe vào ngày 12/12 hàng năm, dịp này đánh dấu ngày Đức Mẹ Mary hiện lên trước mặt người nông dân tên Juan Diego ở Mexico vào năm 1531. Theo ghi chép xác thực sớm nhất về sự việc này, Đức Mẹ đã xuất hiện vài lần trước mặt Juan Diego, yêu cầu ông đi nói với Giám mục xây dựng một nhà thờ tại nơi đó để thờ phụng. Tổng giám mục nghe tin, đã yêu cầu ông quay trở lại đồi Tepeyac để nói với người phụ nữ lạ là hãy cho một dấu hiệu để chứng minh. Đức mẹ đã chấp thuận, bà đã hóa phép để khiến hình ảnh của mình được in một cách kỳ diệu lên chiếc áo choàng tilma của Juan Diego, và ông đã mở nó ra trước sự ngỡ ngàng của Đức Tổng giám mục. Hình tượng Đức Mẹ trên tấm áo choàng tilma về sau được biết đến dưới cái tên “Đức Mẹ Guadalupe”.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Đức Mẹ xuất hiện trước mặt người nông dân Juan Diego. Ảnh: Catholic Tradition

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Khi Juan Diego mở tấm áo choàng ra, một hình tượng Đức Mẹ kỳ diệu xuất hiện. Ảnh: Youtube

Cho đến nay, tấm áo choàng in hình Đức Mẹ vẫn là một di vật bí ẩn và kinh ngạc. Theo một số chuyên gia, di vật này có các đặc tính mà không ai có thể bắt chước được. Nhiều bản sao hình tượng Đức Mẹ đã được chế tác để xác thực tuyên bố này, người ta nhận thấy trong khi các bản sao bị hư hỏng xuống cấp trong một thời gian ngắn, nhưng tấm áo choàng nguyên gốc vẫn trường tồn theo thời gian và duy trì được chất lượng bảo quản hoàn hảo mãi cho đến tận bây giờ. Thậm chí khi các phần phụ thêm được bổ sung vào bức tranh bị hư hại (các lá vàng được gắn lên các tia hào quang phát ra từ người Đức Mẹ bị bong tróc, các lớp sơn màu bạc gắn lên hình ảnh mặt trăng bị biến màu), thì phần tranh nguyên gốc trên tấm tilma hoàn toàn không bị nứt nẻ hay bong tróc, cho thấy chất lượng tuyệt vời không thể lý giải của hình tượng Đức Mẹ trên tấm tilma.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Nhiều bản sao đã được chế tác, nhưng không thể bắt chước được các đặc tính kỳ diêu của tấm tilma nguyên bản. Ảnh: YouTube

Tấm tilma in hình tượng Đức Mẹ Mary cũng được cho là bất khả hủy, sau khi “sống sót” qua hai sự kiện mà theo logic thì đã có thể hoàn toàn hủy hoại thánh vật này. Lấy ví dụ, vào năm 1921, một phần tử cực đoan chống giáo hội đã giấu một quả bom trong nhà thờ đặt tấm áo choàng ở Guadalupe. Khi bom phát nổ, gần như tất cả mọi thứ bị vỡ tan, chỉ ngoại trừ tấm tilma in hình Đức Mẹ. Tại khu vực gần nơi đặt tấm áo choàng, một cây thánh giá bằng đồng đã bị biến dạng, cong ngược lại bởi sức mạnh từ vụ nổ.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Tấm tilma nguyên gốc in hình Đức Mẹ, được treo trang trọng trên bàn thờ cao tại nhà thờ Guadalupe. Ảnh: Wikipedia

3. Bửu huyết của Thánh Januarius

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường

Thánh vật thứ 3 trong danh sách là Bình đựng máu của Thánh Januarius. Khoảng đầu thế kỷ 4, Thánh Januarius là giám mục tại thành Beneventum ở Italy, ngài đã tử vì đạo trong cuộc bức hại đẫm máu các tín đồ của Hoàng đế Diocletian.

Một bình đựng máu khô của ngài đã được bảo quản và lưu giữ cho đến ngày nay tại nhà thờ thành phố Napoli, và Ngài là vị thánh bảo hộ thành phố này. Cứ vào 3 thời điểm xác định hàng năm, máu đựng trong bình sẽ hóa lỏng, đây được coi là một phép lạ. Có hàng nghìn người từ khắp nơi tụ tập đến để chứng kiến phép lạ này.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Trái: Thánh Januarius, Phải: Bình đựng máu của ông. Ảnh: Ancient Pages

Nhiều cư dân của Napoli tin rằng việc máu của thánh nhân không hóa lỏng là một dấu chỉ cho thấy các bi kịch sẽ xảy đến cho thành phố. Gần đây nhất, khi máu của thánh nhân không hóa lỏng vào năm 1980, một trận động đất đã xảy ra ít ngày sau ở phía nam thành phố Naples làm hơn 2,500 người thiệt mạng.

Một trường hợp tương tự vào năm 1939, khi một bệnh dịch tả tấn công thành phố ngay trước khi bùng nổ Thế chiến thứ hai; và vào năm 1943, khi quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng Ý. Trong quá khứ xa xôi nhất, sự vắng mặt của các phép lạ thường được kết hợp với các tổn thất quân sự, các vụ phun trào núi lửa, và sự bùng phát của các dịch bệnh.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Trận động đất đã xảy ra vào năm 1980 tại Napoli, khiến 2500 người thiệt mạng. Thời điểm đó máu đựng trong bình không hóa lỏng. Ảnh: TrekEarth

Sự việc gần đây nhất đáng lưu ý là vào ngày 16 tháng 12 năm 2016, khi bửu huyết của Thánh Januarius đã không hóa lỏng như dự kiến. Chỉ một tuần sau đó, các nhà khoa học cho biết một ngọn núi lửa ngoài khơi bờ biển đảo Sicily, gần Naples, đã rục rịch hoạt động trở lại.

Campi Flegrei là núi lửa lớn hơn rất nhiều so với ngọn núi lửa Vesuvius, từng phun trào phún xuất thạch phá hủy toàn bộ thành phố cổ Pompeii. Núi lửa Campi Flegrei, một khi bùng nổ có thể gây nguy hiểm cho nhiều nước châu Âu.

4. Cây giáo định mệnh

Trong sự tích Công giáo, Cây giáo Thánh, cũng được gọi là Cây giáo Định mệnh (hay Cây thương Định mệnh), là cây giáo mà một binh sĩ La Mã tên Longinus đã dùng để đâm vào sườn bên phải của Chúa Giê-su khi Ngài bị treo trên cây thập tự.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Binh sĩ La Mã Longinus dùng cây giáo đâm vào sườn Chúa Giê-su. Ảnh: hubpages.com

Các hiệp sĩ Công giáo đã phát hiện được cây giáo này tại thành cổ Hy Lạp Antioch (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) trong Cuộc thập tự chinh thứ nhất vào năm 1098. Truyện kể rằng, khi các hiệp sĩ bị quân Saracen bao vây trong thành, họ đã tìm thấy báu vật này trong Nhà thờ Thánh Peter. Được tiếp thêm một nguồn sức mạnh vô hình kỳ lạ, họ đã đánh đuổi quân địch thành công ra khỏi thành. Theo truyền thuyết, bất cứ ai có được cây giáo này và giải mã được bí ẩn bên trong sẽ sở hữu một nguồn sức mạnh siêu nhiên, cho phép người đó chinh phục thế giới.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Các hiệp sĩ Công giáo may mắn phát hiện được Cây giáo Thánh, và đã đẩy lùi được quân địch. Ảnh: Wikimedia

Hiện có một vài thánh vật ở một số nhà thờ Châu Âu được cho là Cây giáo chân thật. Tuy nhiên, cây giáo được trưng bày tại Bảo tàng Báu vật Hapsburg (Hapsburg Treasure House Museum) ở Viên (Áo) được cho là đáng tin cậy nhất.

Di vật cụ thể này được biết đến với cái tên Cây giáo Constantine, và nó đã trở thành biểu tượng cho quyền lực đế vương của các Hoàng đế La Mã Thần Thánh lúc đăng quang. Cây giáo này được cho là từng nằm trong tay nhiều nhà lãnh đạo quân sự tài ba, như 3 hoàng đế La Mã Theodosius, Charlemagne và Frederick Barbarossa.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Từ trái sang phải: 3 hoàng đế La Mã tài ba Charlemagne, Theodosius và Frederick Barbarossa. Ảnh: ĐKN

Từng có một giả thuyết cho rằng Hitler cũng từng nắm trong tay cây giáo này trong những chiến dịch quân sự thành công nhất của ông ta.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường

5. Chén Thánh

Chén Thánh có thể là một khái niệm không quá xa lạ với nhiều người ngoại đạo, nhất là khi nó được lấy làm chủ đề trong nhiều bộ phim truyền hình ăn khách, bom tấn, như Indiana Jones và Cuộc Thập Tự Chinh Cuối Cùng.

Truyền thuyết về Chén Thánh được phổ biến qua sách vở bắt đầu từ thế kỷ 12, đặc biệt trong các câu chuyện liên quan đến các Hiệp sĩ Camelot phục vụ dưới trướng vị vua huyền thoại Arthur của Anh Quốc.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Chén Thánh và các Kị sĩ Bàn tròn. Ảnh: Atlas Obscura

Hầu hết mọi người cho rằng Chén Thánh chỉ có một. Tuy nhiên, theo một số học giả, thống kê từ các truyền thuyết ở Châu Âu về chiếc cốc đặc biệt này trong giai đoạn thế kỷ 12-15 cho thấy có tổng cộng hơn 10 chiếc Chén Thánh.

Theo sử sách Công giáo, Chén Thánh chính là chiếc cốc được Chúa Giê-su dùng trong Bữa tối Cuối cùng trước khi Ngài bị quân La Mã hành hình. Chiếc cốc này cũng được cho là chiếc cốc mà Thánh Joseph xứ Arimathea đã dùng để hứng máu và mồ hôi của Chúa Giê-su sau khi Ngài được hạ xuống từ cây Thập tự.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường
Chén Thánh là chiếc cốc mà Chúa Giê-su đã dùng trong Bức tối Cuối cùng. Ảnh: leiturasdahistoria.com.br

Truyện kể rằng, Joseph đã bị giam vài năm sau khi bày tỏ niềm tin kiên định vào Chúa Giê-su. Sau khi được thả, ông đã đến Anh Quốc, mang theo mình Chén Thánh, và khi ông mất, chiếc chén được truyền lại cho hậu nhân. Theo truyền thuyết, chiếc chén có các năng lực thần kỳ, nếu một người tốt uống nước đựng trong chén hoặc thậm chí chỉ cần chạm vào nó, họ sẽ được chữa khỏi bệnh, được khai sáng tâm linh, thậm chí trở nên bất tử.

Chén Thánh và những thánh vật nổi tiếng trong Công giáo sở hữu quyền năng siêu thường

Có rất nhiều di vật có liên hệ với Chúa Giê-su và tín ngưỡng Công giáo được ghi nhận trong lịch sử. Tính xác thực của rất nhiều di vật này cũng như sức mạnh huyền diệu và siêu thường của chúng vẫn đang được tranh cãi rất sâu sắc cho đến nay. Tuy nhiên, lòng tin kiên chắc của các tín hữu vào những di vật và phép lạ không nên bị xem thường. Rốt cục, các phép lạ, như bình máu hóa lỏng của Thánh Januarius, hay hiện tượng nhục thân bất hoại của các Thánh, vẫn đang tồn tại và hiện hữu một cách rất chân thực.

Dù vậy, một điều quan trọng cần phải nhớ là, niềm tin, tín ngưỡng hay lòng tôn kính của các tín đồ về cơ bản không phải dành cho các đồ vật vô tri vô giác, mà là dành cho các nhân vật mà chúng có liên hệ. Và lòng tôn kính đối với nhân vật tôn giáo đó cũng gián tiếp chính là lòng tôn kính đối với Thiên Chúa. Do đó, các phép lạ và khả năng chữa trị gắn liền với các di vật này không phải nằm ở sức mạnh độc lập của chúng, mà là ở sự linh thiêng của nhân vật mà chúng đại biểu (Chúa Giê-su, Đức Mẹ Maria, v.v…).

Nguồn: ĐKN