06/10/2020

NASA tung "át chủ bài" quyết định vận mệnh vĩ đại năm 2024 trước giờ G

Trong lịch sử nhân loại tính cho đến nay, chỉ có 12 người đặt chân lên Mặt trăng, tất cả đều là người Mỹ, đều là phi hành gia NASA. Các sứ mệnh này đều diễn ra trong thế kỷ 20 vào những năm từ 1969 đến 1972, do Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Apollo.


Bước sang thế kỷ 21, dưới lời hiệu triệu "Quyết tâm đưa NASA vĩ đại trở lại" của Tổng thống Mỹ Donald Trump cùng khoản chi tiêu ngân sách dành cho NASA lớn nhất trong lịch sử các đời ông chủ Nhà Trắng, NASA bắt tay vào chương trình tái đổ bộ Mặt trăng mới có tên Chương trình Artemis (Artemis là tên nữ thần Hy Lạp, chị em song sinh của thần Apollo). 

Năm tài khóa 2020, Tổng thống Mỹ kêu gọi Quốc hội Mỹ tăng ngân sách chi tiêu cho NASA lên con số 22,6 tỷ USD. Đứng trước tính khẩn thiết của sứ mệnh, NASA đang mong muốn con số ngân sách trong một năm từ nay đến năm 2025 phải vươn lên con số 28 tỷ USD.

Bởi trước đó, quyết tâm và ngân sách của Tổng thống khiến NASA cấp thiết chuẩn bị những kế hoạch rút ngắn lộ trình từ 8 năm xuống còn 4 năm nhằm giữ vững ngôi vị dẫn dầu trên Mặt trăng, trước những thành tựu không thể phủ định từ Trung Quốc khi nước này đưa tàu đổ bộ thành công xuống nửa tối của Mặt trăng hồi tháng 1/2019.

NASA tung "át chủ bài" quyết định vận mệnh vĩ đại năm 2024 trước giờ G
NASA chỉ còn 4 năm để chứng minh quyết tâm của mình. (Ảnh minh họa: NASA).

Chỉ còn khoảng gần 4 năm (hơn 1.400 ngày) nữa - khoảng thời gian không hề dễ dàng đối với NASA để thể hiện nỗ lực và quyết tâm đưa người tái đổ bộ Mặt trăng. Để làm được điều đó, Giám đốc NASA Jim Bridenstine nhắc đến vai trò tiên quyết của con số 28 tỷ USD kinh phí cho Artemis Program đang xin Quốc hội Mỹ phê chuẩn cho đến năm tài chính 2025 rằng:

"28 tỷ USD là khoản kinh phí cần thiết cho chương trình Mặt trăng Artemis. Với sự ủng hộ của lưỡng đảng từ Quốc hội, việc tái đưa người đổ bộ Mặt trăng trong thế kỷ 21 nằm trong tầm tay của Mỹ. Trong những tháng gần đây, NASA liên tục củng cố, điều chỉnh các kế hoạch khám phá của mình để điều chỉnh ngân sách cũng như nền tảng của mình. 

Nếu nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ chính phủ và người dân, nước Mỹ sẽ quay trở lại Mặt trăng dù là với mục đích khoa học hay kinh tế. Một khi chúng ta tạo lập sự hiện diện bền vững trên thiên thể này, chúng ta sẽ có cơ sở để hướng tới những bước đi đầu tiên của con người trên Hành tinh Đỏ (sao Hỏa)".

Người đứng đầu NASA cung cấp bản chi tiêu ngân sách dành cho Artermis Program rất rõ ràng NẾU số tiền 28 tỷ USD được "rót" vào quỹ của cơ quan này. Cụ thể:
  • 16,2 tỷ USD đầu tư cho hệ thống hạ cánh xuống Mặt trăng ban đầu của con người, bao gồm phát triển, thử nghiệm và phóng các tàu đổ bộ Mặt trăng mới.
  • 7,6 tỷ USD dành cho phát triển hệ thống tên tửa đẩy có tên Hệ thống Phóng Không gian (SLS) tiên tiến của Mỹ.
  • 1,9 tỷ USD dành cho Chương trình khám phá và thám hiểm Mặt trăng, được mô tả là một thành phần quan trọng trong Chiến lược thăm dò của NASA, bao gồm việc "thiết lập các hợp đồng thương mại cho các dịch vụ vận chuyển đổ bộ lên Mặt trăng".
  • 1,2 tỷ USD dành cho các công nghệ thăm dò phía Nam cực của Mặt trăng (địa điểm đổ bộ theo kế hoạch).
  • 552 triệu USD dùng cho các phương tiện di chuyển trên bề mặt Mặt trăng. Theo NASA, các phi hành gia sẽ sống và làm việc bên ngoài tàu đổ bộ trong 6,5 ngày.
  • 518 triệu USD được đầu tư cho 2 bộ đồ của phi hành gia (1 nam, 1 nữ) thực hiện sứ mệnh đổ bộ.
NASA tung "át chủ bài" quyết định vận mệnh vĩ đại năm 2024 trước giờ G
Trạm vũ trụ Gateway ở quỹ đạo Mặt trăng. (Nguồn: NASA).

NASA tung "át chủ bài" quyết định vận mệnh vĩ đại năm 2024 trước giờ G
Tàu đổ bộ Mặt trăng. (Nguồn: NASA).

NASA tung "át chủ bài" quyết định vận mệnh vĩ đại năm 2024 trước giờ G
Bộ đồ phi hành gia cải cách của NASA dành cho các phi hành gia đổ bộ Mặt trăng năm 2024. (Nguồn: NASA).

Jim Bridenstine viết trong phần giới thiệu kế hoạch: "Khoản ngân sách mà chúng tôi cần là nhằm đạt được mọi thứ đã đề ra trong kế hoạch này. Bao gồm:..."

Triển khai Artemis qua 3 giai đoạn

  • Giai đoạn 1 năm 2021: NASA khởi động Artemis 1, nhằm thử nghiệm hệ thống tên lửa đẩy SLS và tàu vũ trụ Orion.
  • Giai đoạn 2 năm 2022: Thực hiện sứ mệnh Artemis 2 - sứ mệnh tiền đồn trước khi đổ bộ Mặt trăng, đưa phi hành gia kết nối trạm vũ trụ Gateway tại vùng quỹ đạo Mặt trăng. Gateway đóng vai trò là ngôi nhà ngoài không gian của phi hành gia để sinh sống, làm việc, nghiên cứu Mặt trăng kỹ lưỡng hơn.
  • Giai đoạn 3 năm 2024: Triển khai sứ mệnh Artemis 3, chính thức đưa người (2 phi hành gia) tái đổ bộ Mặt trăng tại cực Nam vệ tinh này.
NASA tung "át chủ bài" quyết định vận mệnh vĩ đại năm 2024 trước giờ G
Đổ bộ Mặt trăng, sau đó khám phá sao Hỏa là hành trình của Mỹ đặt ra cho NASA. (Nguồn: Financial Times).

Sau năm 2024, xây dựng căn cứ vĩnh viễn trên Mặt trăng, tạo bàn đạp để khám phá không gian sâu.

Theo kế hoạch, sau khi đổ bộ Mặt trăng, NASA sẽ thực hiện 4 sứ mệnh chính:
  • (1) Tìm và sử dụng nước (dạng băng) cũng như tài nguyên quan trọng khác trên Mặt trăng cần thiết cho các sứ mệnh thăm dò dài hạn.
  • (2) Giải mã những bí ẩn trên Mặt trăng, từ đó tìm hiểu thêm về Trái Đất và vũ trụ.
  • (3) Tìm hiểu cách sống và sinh hoạt trên bề mặt của một thiên thể khác.
  • (4) Kiểm chứng công nghệ Trái Đất trước khi thực hiện sứ mệnh đổ bộ sao Hỏa.
Sau khi hai phi hành gia của con tàu Apollo 11 là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đặt chân lên Mặt trăng vào ngày 20/7/1969, chỉ có 10 người nữa, tất cả là người Mỹ, đã đi bộ trên bề mặt Mặt trăng. Phi hành gia cuối cùng của NASA đặt chân lên Mặt trăng là Chỉ huy sứ mệnh Apollo 17 Gene Cernan vào ngày 14/12/1972.

Trong diễn biến liên quan, Smithsonianmag bình luận rằng, trong lúc đại dịch Covid-19 diễn ra phức tạp tại Mỹ, thì việc chính phủ nước này muốn khám phá các vì sao thì họ phải khiến người dân Mỹ tin rằng họ có thể làm được điều đó. Nghĩa là các sứ mệnh không gian đó khả thi.

Rất lâu trước khi các nhà khoa học và kỹ sư có thể gửi các phi hành gia vào không gian, họ phải thuyết phục công chúng - và các quan chức chính phủ sẽ tài trợ cho những bước đi đầu tiên này - rằng sứ mệnh khó khăn ấy hoàn toàn có thể thực hiện được. 

Piers Bizony, một nhà báo người Anh và là tác giả của cuốn sách "The Art of NASA" cho biết: "Bạn không thể chỉ nói "Chúng tôi sẽ chế tạo tên lửa" và yêu cầu mọi người tin vào điều đó - bạn thực sự phải chỉ cho họ cách thức để hiện thực hóa (thành công) điều đó".

Nguồn: Pháp luật và bạn đọc

04/10/2020

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi

Có rất nhiều các bằng chứng và hiện tượng khó lý giải cho thấy Mặt Trăng là một vật thể nhân tạo thay vì một vệ tinh tự nhiên như chúng ta vẫn nghĩ.


Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi

Bất chấp một lượng lớn dữ liệu khổng lồ được mang về Trái Đất sau các sứ mệnh của chương trình Apollo do Hoa Kỳ tiến hành trong thập niên 60, Mặt trăng lâu nay vẫn là một bí ẩn đối với các nhà thiên văn học và các nhà khoa học. Tiến sĩ Robert Jastrow, chủ tịch Ủy ban thăm dò mặt trăng của NASA đã gọi mặt trăng là “viên đá Rosetta của các hành tinh”

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Ngày 21/12/1968, Mỹ phóng tàu Apollo 8 – tàu vũ trụ đầu tiên có người lái bay quanh Mặt Trăng (Ảnh: NASA)

Vậy mặt trăng có những đặc điểm gì mà lại có thể mê hoặc con người tới vậy?

Có rất nhiều người tin chắc rằng mặt trăng của Trái đất thực sự là một phần cứng được thiết kế và địa khai hóa với lớp bụi và đá dày 3 dặm bao phủ bên ngoài. Bên dưới lớp này, người ta tin rằng mặt trăng có một lớp vỏ rắn khoảng 20 dặm làm bằng vật liệu có độ bền cao như titan, urani 236, neptunium 237.

Với nhiều nhà nghiên cứu về vật thể bay không xác định (UFOlogist) trên khắp thế giới, mặt trăng hoàn toàn có thể là một căn cứ khổng lồ, nơi những người ngoài hành tinh soi xét Trái đất và nhân loại chúng ta.

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Nhiều người tin rằng có một căn cứ hiện đại của người ngoài hành tinh trong lõi Mặt trăng (Ảnh: ĐKN)

Robin Brett, một nhà khoa học từ NASA đã nói, “Có vẻ sẽ dễ dàng hơn để giải thích sự không tồn tại của Mặt trăng hơn là sự tồn tại của nó.”

Dưới đây chúng ta sẽ liệt kê 7 sự bất thường cho thấy Mặt trăng của chúng ta đã được thiết kế và có thể là một cơ sở rỗng khổng lồ:

1. Mặt trăng vọng âm thanh

Vào tháng 11 năm 1969, NASA cố ý phá hủy một thiết bị đổ bộ trên mặt trăng. Vụ nổ gây ra một tác động tương đương với một tấn chất nổ TNT trên Mặt trăng. Các nhà khoa học NASA lắng nghe những gì đã xảy ra trên Mặt Trăng sau những đợt sóng xung kích do vụ nổ xảy ra. Kỳ lạ thay, sau khi tác động, các nhà khoa học NASA nói rằng Mặt trăng vang lên như một tiếng chuông và tiếng vang ấy vang lên trong ba mươi phút.

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Sự vang vọng âm thanh cho thấy Mặt trăng là một kết cấu rỗng (Ảnh: ancient code)

Theo Ken Johnson, giám sát của bộ phận kiểm soát dữ liệu và hình ảnh, Mặt trăng không chỉ reo lên như một tiếng chuông mà cả Mặt Trăng “lảo đảo” theo cách chính xác đến mức “gần như là nó có một van điều tiết thủy lực khổng lồ bên trong nó. Đây chính là một nguyên nhân chứng minh mặt trăng dường như đã được xây dựng từ xa xưa.

2. Mặt trăng có các nguyên tố không nên có

Vào những năm 1970, Mikhail Vasin và Alexander Shcerbakov từ Học viện Khoa học Liên Xô đã viết một bài báo có tựa đề: “Mặt trăng có phải là sự sáng tạo của Tình báo Người ngoài hành tinh không?” Đó là một bài báo rất thú vị đặt ra một số câu hỏi quan trọng. Làm thế nào mà bề mặt của mặt trăng lại cứng đến như vậy và tại sao nó có chứa các khoáng chất như Titanium? Một số lượng đá trên mặt trăng đã được tìm thấy chứa các kim loại được xử lý như Đồng thau, các nguyên tố của Uranium 236 và Neptunium 237.

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Đồng vị Uranium 236 và Neptunium 237 là các vật chất không tồn tại trong tự nhiên (Ảnh: Photographic Periodic Table)

Điều kỳ lạ là những kim loại này không bao giờ được tìm thấy ngoài tự nhiên mà chưa qua xử lý, tuy nhiên, chúng ta lại bắt gặp dấu vết của chúng trên Mặt trăng. Urani 236 là một chất thải hạt nhân phóng xạ được tìm thấy trong hạt nhân đã qua sử dụng và tái chế Uranium. Thú vị hơn, Neptunium 237 là một nguyên tố kim loại phóng xạ và một sản phẩm phụ của các lò phản ứng hạt nhân và sản xuất Plutonium. Bạn phải đặt câu hỏi: Điều gì đang xảy ra trên Mặt trăng của Trái đất? Các nguyên tố và khoáng chất này đến từ đâu?

3. Mặt trăng của Trái Đất không có lõi rắn giống như mọi vật thể hành tinh khác

Các nhà nghiên cứu gần như khẳng định 100% rằng Mặt Trăng trên thực tế là rỗng hoặc có lõi với cường độ rất thấp. Kỳ lạ thay, khối lượng tập trung của Mặt Trăng nằm ở một loạt các điểm ngay bên dưới bề mặt.

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Mặt trăng là một vật thể rỗng với cường độ lõi rất thấp (Ảnh: MysTown.com)

4. Mặt trăng có tuổi thọ lớn hơn Trái đất

Mặt trăng không giống bất kỳ vệ tinh nào khác được phát hiện trong vũ trụ mà chúng ta đã biết. Các nhà nghiên cứu cho biết Mặt trăng có tuổi thọ là 4,6 tỷ năm và điều đó đặt ra rất nhiều câu hỏi. Điều này có nghĩa là mặt trăng xuất hiện trước Trái đất tới gần 800.000 năm theo các nhà khoa học.

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Các nghiên cứu mới chỉ ra Mặt trăng xuất hiện trước Trái đất tới gần 800.000 năm (Ảnh: Tinhhoa)

5. Quỹ đạo đáng kinh ngạc

Mặt trăng của Trái đất là mặt trăng duy nhất trong hệ mặt trời có quỹ đạo tròn gần như “hoàn hảo”. Thực tế là Mặt trăng không quay tròn như một thiên thể tự nhiên. Nói cách khác, Mặt Trăng của chúng ta không chia sẻ bất kỳ đặc điểm nào với các vệ tinh khác được tìm thấy trong Hệ Mặt Trời của chúng ta. Nếu điều đó không đủ lạ lùng, hãy xem xét rằng từ bất kỳ điểm nào trên bề mặt hành tinh của chúng ta chỉ có một mặt của Mặt Trăng là có thể nhìn thấy được. Vậy những bí ẩn phía sau của Mặt trăng là gì?

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Quỹ đạo tròn đặc biệt hiếm có của Mặt trăng (Ảnh: ancient code)

6. Tintanium có trong đá mặt trăng

Có một số loại đá mặt trăng đã được tìm thấy có chứa titan gấp mười lần so với các loại đá “giàu titan” trên hành tinh Trái đất. Ở đây trên trái đất, chúng ta sử dụng Titan trong các máy bay siêu âm, tàu ngầm và phi thuyền. Điều này là không thể giải thích được. Tiến sĩ Harold Urey, người từng nhận giải Nobel Hóa học cho biết ông đã “bối rối khủng khiếp bởi những hòn đá mà các nhà phi hành gia tìm thấy trên mặt trăng cũng như lượng titan khổng lồ chứa trong chúng. Các nhà khoa học đã không thể có lời giải thích hợp lý nào cho sự xuất hiện của Titanium.

Mặt trăng là một vệ tinh nhân tạo, 7 bằng chứng khó chối cãi
Các mẫu đá trên mặt trăng có hàm lượng titanium cao bất thường (Ảnh: Sputnik)

7. Vị trí chính xác

Nếu tất cả các điểm trên không khiến bạn suy nghĩ khác về mặt trăng của Trái đất; đây là một số điều thú vị hơn về Mặt Trăng: Điều gì đang giữ mặt trăng ở vị trí gần như hoàn hảo của nó? Mặt trăng có độ cao, hướng quay và tốc độ chính xác, cho phép nó “hoạt động” đúng theo cách mà có liên quan chặt chẽ đến hành tinh Trái Đất.

Tất cả những lý do đều cho thấy rằng mặt trăng của Trái Đất trên thực tế được đặt vào quỹ đạo hiện tại của nó trong quá khứ xa xôi. Quỹ đạo không tự nhiên của mặt trăng và thành phần bất thường của nó đã đặt ra hàng trăm câu hỏi cho các nhà khoa học, các nhà thiên văn học hay các nhà địa chất NASA. Bất chấp mọi nỗ lực để hiểu vệ tinh “tự nhiên” của Trái đất, sự thật là chúng ta có rất ít thông tin về nguồn gốc và mục đích thực sự của Mặt trăng và đến thời điểm này nó vẫn vượt qua sự hiểu biết của con người? Mặt Trăng có lẽ không hề hoang vắng và bình yên như chúng ta nghĩ?

Nguồn: DKN

21/09/2020

Hành tinh thuộc về 'thế giới bên kia' tiết lộ tương lai Trái Đất

Các nhà khoa học đã phát hiện một hành tinh to lớn, tồn tại ở trạng thái không thể tin nổi: Quay sát một ngôi sao chết và vừa nuốt chửng nó.


Ngoại hành tinh nói trên mang tên WB 1586b, có kích thước tương đương với Sao Mộc. Điều gây sốc là hành tinh khổng lồ này quay rất gần quanh một ngôi sao lùn trắng, tức chỉ là một "xác chết sao", to cỡ Trái Đất. Điều này khiến nó trở thành một thế giới lẽ ra không thể tồn tại.

Bởi lẽ, cho dù xác chết chỉ nhỏ như Trái Đất, thì khi còn sống ngôi sao này cũng to không kém Mặt Trời. Khi cạn năng lượng, nó sẽ phình to ra thành một ngôi sao khổng lồ đỏ, thừa sức nuốt chửng nhiều hành tinh quay gần nó trước khi co cụm thành sao lùn trắng bé nhỏ.

Hành tinh thuộc về 'thế giới bên kia' tiết lộ tương lai Trái Đất
Ảnh đồ họa từ dữ liệu NASA mô tả hệ sao ma vừa được tìm thấy - ảnh do nhóm nghiên cứu cung cấp

Ở Hệ Mặt Trời của chúng ta, tương lai này đã được dự đoán khoảng 4-5 tỉ năm nữa. Khi Mặt Trời phình to thành sao lùn đỏ, nó sẽ nuốt gọn ít nhất Sao Thủy và Sao Kim, có thể nuốt tới Trái Đất. Trong khi đó hành tinh WB 1586b lại gần sao mẹ hơn khoảng cách giữa Sao Thủy và Mặt Trời rất nhiều: WB 1586b mất chỉ 34 giờ để đi hết 1 vòng quanh sao mẹ, còn Sao Thủy mất đến 90 ngày. Tức lẽ ra WB 1586b phải bị nuốt. Hoặc nó đã bị nuốt, nhưng vẫn sống!

Theo giáo sư Crossfield, nhà vật lý thiên văn từ Đại học Kansas (Mỹ), thành viên nhóm nghiên cứu, ngôi sao "ma" nói trên đã chết được khoảng 6 tỉ năm. Nó là một kịch bản trái ngược, đáng tham khảo để chúng ta hình dung về tương lai của Trái Đất khi mặt trời phình lên thành ngôi sao khổng lồ đỏ.

Công phát hiện ra hệ sao ma quái này thuộc về TESS - kính viễn vọng không gian chuyên săn tìm các ngoại hành tinh của NASA. Trước đó, một kính viễn vọng lâu đời hơn cũng của NASA là Kepler từng phát hiện một hành tinh cỡ "siêu Sao Mộc" quay quanh 2 ngôi sao, trong đó có 1 ngôi sao đã chết thành sao lùn trắng, 1 ngôi sao vẫn hoạt động. Đây là lần đầu một hệ sao chỉ có sao mẹ đã chết được ghi nhận.

Hệ sao này chỉ cách chúng ta 80 năm ánh sáng nên sẽ là cơ hội tuyệt vời cho các khám phá mới.

Nghiên cứu vừa công bố trên tạp chí khoa học Nature.

nguồn: Người lao động

19/09/2020

NASA tìm thấy bằng chứng về 'nước cho sự sống' trên sao Kim
NASA tìm thấy bằng chứng về 'nước cho sự sống' trên sao Kim

Sao Kim đã nổi lên thành tâm điểm của sự phấn khích sau khi các nhà thiên văn học phát hiện ra dấu vết của khí phosphine trong bầu khí quyển của hành tinh láng giềng của chúng ta, nhưng NASA cũng tìm thấy "đủ nước để hỗ trợ cho sự sống" trên hành tinh này.


Các nhà thiên văn đến từ Anh đã phát hiện khí phosphine trong lớp khí quyển trên cao độ 48km (30 dặm) trong đám mây của sao Kim, các nhà nghiên cứu cho rằng đó là một dấu hiệu hàng đầu của sự sống ngoài hành tinh.

12/09/2020

Vũ trụ là ‘phi vật chất-tinh thần và tâm linh’, theo nhà vật lý nổi tiếng
Vũ trụ là ‘phi vật chất-tinh thần và tâm linh’, theo nhà vật lý nổi tiếng

Vào năm 2005, Giáo sư Vật lý và Thiên văn học tại Đại học Johns Hopkins Richard Conn Henry đã xuất bản một bài báo trên tạp chí Nature với tiêu đề “Vũ trụ tinh thần” (The Mental Universe). 


Trong đó, ông viết như sau: Một kết luận cơ bản của vật lý học cũng thừa nhận rằng người quan sát tạo ra thực tại. Là những người quan sát, cá nhân chúng ta tham gia vào việc tạo ra thực tại của chính mình. Các nhà vật lý bị buộc phải thừa nhận rằng vũ trụ là một công trình của "tinh thần"...

05/09/2020

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Nếu bạn quan tâm đến những gì xảy ra trên bầu trời, và đặc biệt liên quan đến mặt trăng và mặt trời thì 15 ứng dụng thiên văn học tuyệt vời dành cho điện thoại thông minh sau đây chắc chắn sẽ giúp bạn.

1. Ứng dụng thiên văn học trên Iphone

Luminos

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Luminos là một ứng dụng thiên văn chuyên nghiệp bao gồm hàng triệu vật thể vũ trụ. Bạn sẽ có thể sử dụng nó để tìm hiểu thêm về các vật thể trên bầu trời, các ngôi sao xác định, du hành qua thời gian và quan sát hệ mặt trời đang chuyển động.


NASA

NASA – Cái tên xuất hiện hấu hết trong các bộ phim khoa hoc vien tuong của Mỹ. Đây là một ứng dụng cho iOS, được chính NASA (The National Aeronautics and Space Administration) – Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ cung cấp.

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Có thể coi NASA giống như một cổng thông tin hoàn hảo cho những yêu thích bộ môn thiên văn học. Không chỉ cập nhật thông tin về các hoạt động của NASA mà ứng dụng khoa học miễn phí này còn cung cấp những hình ảnh cũng như video cực đẹp và cực hiếm về vũ trụ. Nếu là người yêu thích sự bí ẩn của vũ trụ, và mong muốn có thể khám phá những điều vẫn còn ẩn trong màn đêm đó, thì NASA chính là thứ bạn cần đầu tiên trong cuộc hành trình khám phá này.

StarMap

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

StarMap là một trong những ứng dụng thiên văn học tốt nhất cho iPhone. Nó có thể giúp bạn điều hướng không gian và tìm các vật mới để quan sát. Trong cơ sở dữ liệu của nó có chứa 2,5 triệu ngôi sao. Ứng dụng này có giao diện Apple Watch và Apple TV.

SkyORB

SkyORB là một ứng dụng thiên văn học miễn phí cực kỳ hay và thú vị dành cho người dùng smartphone sử dụng hệ điều hành iOS. Khá nhỏ gọn, tích hợp đa chức năng với chương trình khảo sát thiên văn học gồm:
Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Bản đồ ngôi sao 3D.
Đài thiên văn 3D.
Lịch thiên văn.
Các công cụ tìm kiếm, đồng hồ mặt trời, điểm hướng lên bầu trời, thời tiết… cùng nhiều tính năng hấp dẫn khác.

Điểm đặc biệt khiến ứng dụng khoa học cho iOS lọt vào top ứng dụng khoa học tốt nhất chính là khả năng xác định danh tính và cung cấp thông tin cho người dùng về một ngôi sao hay hành tinh bất kỳ nào chỉ bằng thao tác vô cùng đơn giản, đó là đưa smartphone của mình lên trời, hướng về phía nó. Ngoài ra, SkyORB cũng hỗ trợ khá nhiều ngôn ngữ khác nhau trên Thế giới, giúp cho việc tiếp cận với người dùng được tốt hơn.

Observer Pro

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Observer Pro là một ứng dụng tuyệt vời để lập kế hoạch thiên văn. Nó bao gồm hơn 14.000 vật thể trên bầu trời sâu thẳm và biểu đồ để giúp bạn xác định các thiên thể.


Scope Nights

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Scope Nights là một ứng dụng xem thiên văn để dự báo thời tiết và bản đồ bầu trời đêm dành cho những người muốn chiêm tinh. Nó có dự báo lên đến 10 địa điểm trên toàn thế giới.

Night Sky 2

Với ứng dụng khoa học trên iOS Night Sky 2, người dùng có thể quan sát được các vì sao một cách rõ ràng hơn, chi tiết hơn với nhiều thông tin hơn. Cũng giống như SkyORB, ứng dụng này sử dụng công nghệ Point to sky – một công nghệ mới, cho phép người dùng nếu muốn tìm hiểu, quan sát một ngôi sao nào, chỉ cần hướng thiết bị di động của mình lên trời (về phía ngôi sao, hành tinh đó), phần việc còn lại, Night Sky 2 sẽ lo.
Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Trong trường hợp bầu trời tại khu vực bạn quan sát không thực sự tốt (nhiều mây) thì đó cũng không phải vấn đề, bởi Night Sky 2 vẫn có thể tìm thấy và hiển thị tốt các tiểu hành tinh cũng như các ngôi sao mà nó có thông tin.

Distant Suns

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Distant Suns có chứa hàng ngàn ngôi sao và hành tinh và giúp bạn khám phá bầu trời ngay trên iPhone của bạn. Nó như một thiết bị GPS và thiết bị dự báo thời tiết hiển thị thời tiết hiện tại. Ngoài ra mỗi một chòm sao đều có một câu chuyện đằng sau nó và nhiều thứ khác.

2. Ứng dụng nghiên cứu bầu trời trên Android

Redshift - Astronomy

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Redshift - Astronomy mang cả bầu trời đêm tuyệt đẹp lên màn hình của bạn. Khám phá hành tinh ngoài trái đất, tăng cường kiến thức của bạn bằng kho thông tin chi tiết về chòm sao, du hành không gian và cả sự kiện thiên thạch quan trọng. Không những thế, Redshift còn cung cấp cả những chuyến bay 3D, cho phép người dùng “đi dạo” một vòng quanh hệ mặt trời và chiêm ngưỡng hơn 100.000 tinh tú và 70.000 vật thể trên bầu trời đêm. Ứng dụng được người dùng đánh giá 4.7 sao trên Play Store bởi nguồn thông tin hữu ích.

Eclipse Calculator

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Eclipse Calculator là một ứng dụng theo dõi các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực. Nó sẽ xác định vị trí của bạn thông qua hệ thống định vị GPS hoặc theo sự lựa chọn của bạn. Thú vị nhất có lẽ là việc mô phỏng các hiện tượng này nếu thời tiết không cho phép bạn chứng kiến nó bằng mắt. Ứng dụng miễn phí nhưng chỉ có sẵn trong hai ngôn ngữ : tiếng Anh hoặc tiếng Tây Ban Nha.

Star Walk 2 Free

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Star Walk 2 Free có thể nói là một trong những ứng dụng thiên văn đẹp nhất mà người dùng thấy trên CH Play. Giao diện tuyệt vời và cực dễ điều hướng. Ngoài ra, nó còn cung cấp rất nhiều chức năng hữu ích như bản đồ bầu trời tương tác để người dùng ngắm sao mọi lúc, hỗ trợ ngắm sao ở một thời điểm nhất định. Tải và sử dụng Star Walk 2 Free miễn phí nhưng có chứa các gói mua hàng trả bằng tiền thật.


Sky Map

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Sky Map for Android là ứng dụng cung cấp thông tin cơ bản về thiên hà và các vì sao trên bầu trời. Nó hoạt động ổn định và mượt mà trên thiết bị Android. Sky Map cho phép người dùng sử dụng cảm biến con quay hồi chuyển của smartphone để ngắm ngôi sao, chòm sao và các hành tinh. Sky Map là ứng dụng mã nguồn mở nên được phát hành hoàn toàn miễn phí trên CH Play. Nếu bạn có kiến thức về lập trình ứng dụng, có thể tham gia phát triển Sky Map hoàn thiện hơn tới người dùng.

Star Tracker - Mobile Sky Map

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Lựa chọn đáng giá khác không thể bỏ qua khi nhắc tới lĩnh vực này là Star Tracker. Nó tự hào là nguồn cung cấp dữ liệu ngoại tuyến đáng tin cậy, nghĩa là người dùng có thể ngắm sao bất kỳ lúc nào, thậm chí ngay cả khi thiết bị không có kết nối Internet. Ứng dụng lưu trữ thông tin hơn 8.000 tinh tú trong dải ngân hà. Star Tracker có phiên bản Pro không quảng cáo, bổ sung thêm menu thời gian và vị trí.

SkEye

Nếu bạn đang tìm kiếm một thứ gì đó cao cấp hơn Sky Map một chút thì SkEye là lựa chọn không thể hoàn hảo hơn. Nó chứa mọi tính năng cần thiết của một ứng dụng thiên văn chuyên nghiệp, bao gồm cỗ máy thời gian, chế độ ban đêm, rất nhiều vật thể trong hệ Mặt Trời để chiêm ngưỡng và tùy chọn thay đổi hình nền theo nhiều màu sắc khác nhau. SkEye được phát hành miễn phí trên Play Store.

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học

Solar System Explorer 3D

Đúng như tên gọi, ứng dụng này tập trung nhiều hơn vào hệ Mặt Trời cùng các hành tinh hơn là tinh tú và chòm sao. Solar System Explorer 3D thiết kế giao diện tuyệt đẹp với chất lượng đồ họa HD sắc nét kèm âm nhạc cực hay. Hình ảnh minh họa đều được lấy từ NASA. Tất cả mang tới trải nghiệm ngắm dải ngân hà trên màn hình di động y hệt như khi người dùng quan sát qua kính thiên văn. Ngoài ra, nó là công cụ bổ sung kiến thức về vũ trụ cực kỳ hữu ích.

Top 14 ứng dụng trên điện thoại thông minh để nghiên cứu thiên văn học
Con người cần bất tử để du hành giữa các vì sao

" Để sống sót trên hành trình xa xôi, phải chế tạo tàu liên sao đa thế hệ, đưa phi hành gia và nhóm người tiên phong vào trạng thái “tạm ngừng sự sống”, hoặc kéo dài tuổi thọ của họ. " - Trích sách Tương lai nhân loại của Michio KaKu


Bộ phim The Age of Adaline (Sắc đẹp vĩnh cửu) kể về một người phụ nữ sinh năm 1908 tên là Adaline, bị kẹt trong bão tuyết và lạnh cóng tới chết. May thay, một tia sét lạ lùng đánh xuống khiến cô sống lại. Sự kiện kỳ dị này đã làm thay đổi ADN của cô và thật bí ẩn, cô không còn bị lão hóa nữa.

Kết quả là Adaline mãi mãi tươi trẻ trong khi bạn bè và người thân yêu dần già đi. Đương nhiên, những nghi ngờ và đồn đại bắt đầu xuất hiện, cô buộc phải rời bỏ nơi mình đang sống. Thay vì tận hưởng tuổi thanh xuân bất tận, cô sống tách biệt với xã hội và hiếm khi trò chuyện với mọi người. Sự bất tử, thay vì là món quà, lại thành lời nguyền với cô.

Cuối cùng, cô gặp tai nạn ôtô và gần như đã chết. Trên xe cứu thương, sốc điện bằng máy khử rung tim không chỉ cứu sống cô mà còn đảo ngược tác động gen do tia sét gây ra, và cô trở lại là người bình thường. Không hề than khóc vì mất đi sự bất tử, cô vui mừng khi nhìn thấy sợi tóc bạc đầu tiên.

Trong khi rốt cuộc Adaline đã từ bỏ sự bất tử thì khoa học lại đi theo hướng ngược lại, tiến những bước dài trong hiểu biết về quá trình lão hóa. Các nhà khoa học thám hiểm không gian rất quan tâm đến chủ đề lão hóa, bởi khoảng cách giữa các vì sao thường lớn đến mức cần đến hàng thế kỷ để tàu vũ trụ hoàn thành được hành trình.

Vậy nên, quá trình đóng tàu, sống sót trên hành trình rồi định cư ở các hành tinh xa xôi có lẽ phải cần đến vài thế hệ đời người. Để sống sót trên hành trình này, ta phải chế tạo tàu liên sao đa thế hệ, đưa phi hành gia và nhóm người tiên phong vào trạng thái “tạm ngừng sự sống”, hoặc kéo dài tuổi thọ của họ.

Hãy cùng xem xét các phương án có thể đưa con người du hành giữa các vì sao.

Con người cần bất tử để du hành giữa các vì sao
Trong phim Passengers (Người du hành), hành khách được đưa vào trong các kén trên tàu vũ trụ.

Tàu liên sao đa thế hệ

Giả sử chúng ta phát hiện một hành tinh song sinh của Trái Đất, có khí quyển chứa oxy hay nitơ, nước lỏng, lõi đá và kích thước tương đương Trái Đất. Có vẻ đây là ứng cử viên lý tưởng để ta đến định cư. Nhưng rồi bạn nhận ra hành tinh này cách Trái Đất những 100 năm ánh sáng. Nghĩa là tàu liên sao dùng năng lượng nhiệt hạch hay phản vật chất sẽ cần tới 200 năm mới đến nơi.

Giả sử mỗi thế hệ tương ứng với 20 năm, vậy 10 thế hệ con người sẽ được sinh ra trên tàu; con tàu cũng là mái nhà duy nhất họ biết đến. Tuy nghe khá nản lòng, nhưng hãy nghĩ đến thời Trung cổ, khi các kiến trúc sư bậc thầy thiết kế những nhà thờ vĩ đại dù biết rằng họ sẽ không sống đủ lâu để chứng kiến tuyệt tác của mình hoàn tất. Họ hiểu rằng có thể thế hệ cháu mình mới là những người đến dự ngày khánh thành nhà thờ.

Cũng như vậy, ở thời điểm cuộc Đại di dân 75.000 năm trước, khi con người bắt đầu rời châu Phi để tìm kiếm nơi cư trú mới, họ cũng hiểu rằng hành trình này phải mất nhiều thế hệ mới hoàn thành.

Như vậy, du hành đa thế hệ không phải điều gì mới mẻ. Nhưng có nhiều vấn đề ta phải đối mặt khi du hành bằng tàu liên sao. Đầu tiên, cần lựa chọn kỹ càng dân cư, với mỗi tàu có ít nhất 200 người, để duy trì dân số sinh sản bền vững. Số dân trên tàu sẽ được theo dõi để không tăng quá mức gây cạn kiệt nhu yếu phẩm.

Qua tới 10 thế hệ, chỉ một sai lệch nhỏ trong quá trình điều chỉnh dân số cũng có thể dẫn đến quá tải hoặc thiếu hụt dân số nghiêm trọng, khiến cả sứ mạng thất bại. Do đó, để giữ dân số luôn ổn định, sẽ cần sử dụng nhiều biện pháp như nhân bản người, thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm.

Thứ hai, tài nguyên cũng cần được giám sát cẩn thận. Thực phẩm và chất thải phải được tái chế thường xuyên. Không một thứ gì bị vứt bỏ.

Sự buồn chán cũng là vấn đề. Chẳng hạn, các cư dân trên những hòn đảo nhỏ thường than phiền mình bị “sốt đảo”: họ cả thấy tù túng cực độ trong không gian hẹp và luôn bùng cháy ước muốn rời đảo để khám phá thế giới mới.

Một giải pháp khả thi là dùng công nghệ thực tế ảo với những mô phỏng máy tính hiện đại, để tạo ra các thế giới tưởng tượng thú vị. Một biện pháp khác là đặt ra các mục tiêu, cuộc thi, nhiệm vụ và công việc cho mọi người để cuộc sống của họ có phương hướng và mục đích.

Thêm nữa, ta sẽ phải đưa ra nhiều quyết định trên tàu, như việc phân chia tài nguyên và trách nhiệm. Một cá nhân được bầu chọn theo lối dân chủ sẽ giám sát vận hành từng ngày của tàu. Nhưng có khả năng một thế hệ tương lai sẽ không muốn hoàn thành sứ mạng ban đầu, hoặc một thủ lĩnh chính trị có khả năng lôi cuốn công chúng sẽ nổi lên và hủy bỏ sứ mạng.

Tuy nhiên, có một cách để ngăn chặn những vấn đề trên: phương pháp tạm ngừng sự sống.

Con người cần bất tử để du hành giữa các vì sao
Phương pháp tạm ngừng sự sống được đề cập tới trong nhiều bộ phim.

Khoa học hiện đại và hiện tượng lão hóa

Trong phim 2001, một nhóm phi hành gia được giữ đông lạnh trong kén trên con tàu khổng lồ đang thực hiện hành trình đầy gian nan đến Sao Mộc. Các chức năng cơ thể của họ được hạ xuống mức 0, do đó sẽ không phát sinh những vấn đề phức tạp như ở tàu đa thế hệ.

Do các phi hành gia ở trạng thái đông lạnh nên những người thiết kế nhiệm vụ không phải lo họ tiêu thụ quá nhiều tài nguyên, hay phải làm sao để giữ dân số ổn định. Nhưng điều đó có khả thi không?

Bất cứ ai từng sống ở vùng cực Bắc vào mùa đông đều biết các loài cá và ếch có thể sẽ bị đông cứng trong băng, rồi khi mùa xuân đến và băng tan, chúng lại thoát ra như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.

Ta thường nghĩ rằng quá trình đông lạnh sẽ giết chết các sinh vật này. Vì khi nhiệt độ máu giảm, tinh thể băng bắt đầu hình thành và lan rộng cả bên ngoài lẫn bên trong tế bào. Các tinh thể bên trong sẽ xuyên thủng thành tế bào, còn các tinh thể bên ngoài sẽ chèn ép và nghiền nát tế bào.

Mẹ Thiên nhiên giải quyết vấn đề này bằng cách đơn giản: sử dụng chất chống đông. Vào mùa đông, ta thường đặt chất chống đông trong xe để hạ điểm đông đặc của nước. Tương tự, Mẹ Thiên nhiên dùng glucose làm chất chống đông, giúp hạ điểm đông đặc của máu. Nhờ thế mà khi cá và ếch bị đông cứng trong khối băng, máu trong mạch của chúng vẫn ở thể lỏng và thực hiện được các chức năng cơ bản.

Với con người, lượng glucose cao như vậy trong cơ thể sẽ gây độc, thậm chí gây chết người. Vì vậy, các nhà khoa học đã thử nghiệm những chất chống đông khác trong quá trình gọi là “thủy tinh hóa”. Họ kết hợp các chất hóa học để hạ thấp điểm đóng băng sao cho tinh thể băng không thể hình thành.

Tuy nghe qua rất thú vị nhưng kết quả nghiên cứu lại khá thất vọng. Phương pháp thủy tinh hóa thường có các phản ứng phụ. Các hóa chất dùng trong phòng thí nghiệm cũng rất độc hại và có thể dẫn đến tử vong. Cho đến nay, chưa có ai từng được làm đông lạnh, sau đó rã đông, rồi sống tiếp để kể về quá trình đó. Do vậy, ta vẫn còn chặng đường rất dài để thực hiện được phương pháp tạm ngừng sự sống.

Nhưng điều này không ngăn nổi nhiều doanh nghiệp quảng cáo sớm rằng đây là phương thức đánh lừa cái chết. Họ tuyên bố những người mắc bệnh nan y có thể đóng băng cơ thể mình, với chi phi cắt cổ, rồi hồi sinh lại sau nhiều thập kỷ nữa, khi những bệnh đó đã có cách chữa trị.

Tuy nhiên, chưa có bất kỳ chứng cứ thực nghiệm nào chứng tỏ phương pháp này là khả thi. Các nhà khoa học hy vọng theo thời gian, những vấn đề kỹ thuật kể trên sẽ được giải quyết.

Trên lý thuyết, tạm ngưng sự sống là phương án lý tưởng giúp giải quyết nhiều vấn đề trong hành trình dài ngày. Tuy chưa phải là lựa chọn thực tiễn ở thời điểm hiện tại, nhưng trong tương lai, nó sẽ là một trong những phương pháp chính giúp ta sống sót qua các nhiệm vụ liên sao.

Tuy thế, vẫn còn một vấn đề với phương pháp tạm ngừng sự sống. Trong tình huống khẩn cấp bất ngờ, như va chạm với tiểu hành tinh, tàu sẽ cần có con người để khắc phục hư hại. Robot có thể thực hiện các sửa chữa đơn giản, nhưng những trường hợp hệ trọng sẽ cần đến kinh nghiệm và sự phán đoán của con người.

Như vậy, một số người là kỹ sư trên tàu có thể sẽ được đánh thức, nhưng giải pháp vào phút chót này có thể sẽ gây họa nếu thời gian để đánh thức họ là quá lâu, trong khi việc can thiệp của con người lại phải tiến hành ngay. Đây là một điểm yếu trong hành trình liên sao sử dụng phương pháp tạm ngừng sự sống. Có thể một nhóm nhỏ các kỹ sư đa thế hệ sẽ được giữ ở trạng thái thức và luôn sẵn sàng trong suốt hành trình.

Con người cần bất tử để du hành giữa các vì sao

Phóng người nhân bản

Một đề xuất khác về việc chiếm hữu thiên hà là đưa các phôi chứa ADN của người vào không gian, với hy vọng một ngày nào đó, chúng sẽ sống sót ở một địa điểm xa xôi. Hoặc ta có thể phóng chính bộ mã ADN để tạo ra những con người mới. Đây là phương pháp được đề cập trong phim Man of Steel (Người đàn ông thép).

Mặc dù hành tinh quê hương Krypton của Superman đã nổ tung nhưng trước đó, người Krypton đủ tiến bộ để giải mã trình tự chuỗi ADN của toàn bộ cư dân. Theo kế hoạch, thông tin này sẽ được đưa tới một hành tinh tương tự Trái Đất và chuỗi ADN sẽ giúp tạo ra các bản sao của người Krypton. Vấn đề duy nhất là điều này có thể sẽ dẫn tới việc họ muốn chiếm được Trái Đất, tiêu diệt người Trái Đất vốn đã cư trú sẵn ở đây.

Phương pháp nhân bản có rất nhiều ưu điểm. Thay vì phải dùng những con tàu khổng lồ chứa môi trường nhân tạo tương tự Trái Đất và được hệ thống hỗ trợ sự sống, ta chỉ cần gửi đi các ADN. Ngay cả những bể lớn chứa phôi người cũng có thể đặt dễ dàng vào một tên lửa thông thường. Không ngạc nhiên khi các tác giả khoa học viễn tưởng đã hình dung chuyện tương tự từng xảy ra từ thời xa xưa, khi một giống loài tiền-con-người đã gieo ADN vào khu vực của chúng ta trong thiên hà và nhờ đó loài người xuất hiện.

Tuy nhiên, cũng có một số hạn chế ở phương pháp này. Hiện tại, ta chưa thực hiện nhân bản bất kỳ con người nào. Trên thực tế, cũng chưa có cá thể linh trưởng nào được nhân bản thành công. Công nghệ của chúng ta chưa đủ tiến bộ để nhân bản con người, dù có lẽ điều này sẽ khả thi trong tương lai. Khi đó, có lẽ các robot sẽ được thiết kế để tạo ra và chăm sóc người nhân bản.

Quan trọng hơn, người nhân bản có thể giống hệt chúng ta vẻ mặt di truyền nhưng không thể kế thừa ký ức và tính cách. Chúng chỉ là những tờ giấy trắng. Hiện tại, việc cấy ký ức và tính cách vẫn nằm ngoài khả năng của chúng ta. Như vậy, công nghệ này có thể khả thi nhưng cũng mất tới hàng thập kỷ hoặc thế kỷ nữa.

Nhưng ngoài hai phương pháp đông lạnh và nhân bản, còn một cách khác để du hành tới các vì sao: làm chậm hoặc ngưng hẳn quá trình lão hóa.

Nguồn : Zingnews
Một năm thiên hà dài bao lâu?
Con người thường tính thời gian bằng cách đo chuyển động tương đối của Trái đất quanh Mặt trời. Nhưng những vòng quay của Trái đất quanh ngôi sao của mình chỉ có ý nghĩa với cuộc sống trên hành tinh xanh nhỏ bé này mà thôi, còn so với hành trình khổng lồ của Mặt trời và cả Hệ Mặt trời xung quanh trung tâm của dải Ngân Hà thì vòng quay của hành tinh xanh bé nhỏ không có gì đáng kể.

Theo ông Keith Hawkins – Giáo sư dự khuyết ngành thiên văn học của Trường đại học Texas, Mỹ - thì Mặt trời đi một vòng quanh thiên hà của chúng ta mất khoảng 220 triệu đến 230 triệu năm Trái đất. Nói cách khác, nếu chúng ta đo thời gian bằng “chiếc đồng hồ” thiên hà này thì Trái đất mới chỉ 16 tuổi (tính theo năm thiên hà, hay năm vũ trụ), còn Mặt trời 20 tuổi, và vũ trụ là 60 tuổi. 

Một năm thiên hà dài bao lâu?
Trong một năm thiên hà, hay còn gọi là một năm vũ trụ, Mặt trời đi hết một vòng quanh dải Ngân Hà.

Hành trình của Hệ Mặt trời đi vòng quanh thiên hà tương tự như Trái đất quay quanh Mặt trời. Nhưng thay vì quay quanh một ngôi sao, Mặt trời xoay quanh một hố đen siêu khổng lồ nằm ở trung tâm dải Ngân Hà. Nó có một lực hấp dẫn cực lớn đối với các vật thể ở gần trung tâm của thiên hà nhưng chính lực hấp dẫn chung của các vật chất trong thiên hà lại giữ cho Mặt trời đi trên quỹ đạo của nó. 

Giáo sư Hawkins nói rằng Mặt trời chuyển động đủ nhanh, khoảng 230km/ giây, để nó tiếp tục quay quanh trung tâm của thiên hà trên một quỹ đạo hình tròn chứ không bị hút vào hố đen.
Vị trí của chúng ta trong thiên hà

So với một năm Trái đất, một năm thiên hà dài hơn rất nhiều lần và thể hiện một lượng thời gian ở quy mô rất lớn. Nhưng đây không phải là cách đo thống nhất áp dụng cho toàn bộ mọi chuyển động trong thiên hà. Cái mà con người gọi là một năm thiên hà chỉ phù hợp khi tính từ vị trí của Trái đất trong đường xoáy ốc của dải Ngân Hà thôi. Chúng ta nói rằng một năm thiên hà dài 220 triệu đến 230 triệu năm. Nhưng ở các ngôi sao khác trong thiên hà thì năm thiên hà của chúng lại hoàn toàn khác.

Thiên hà của chúng ta rộng khoảng 100.000 năm ánh sáng, và Trái đất cách trung tâm của dải Ngân Hà khoảng 28.000 năm ánh sáng. Nếu bạn hình dung thiên hà là một thành phố thì Trái đất nằm ở đâu đó gần vùng ngoại ô. Đối với các ngôi sao có quỹ đạo gần hố đen, tức là gần trung tâm “thành phố”, một năm thiên hà tương đối ngắn; còn xa hơn “ngoại ô” mà Hệ Mặt trời của chúng ta cư ngụ thì năm thiên hà lại dài hơn một chút.

Tương tự như vậy, độ dài một năm giữa các hành tinh cũng rất khác nhau. Ví dụ: sao Thủy, hành tinh gần Mặt trời nhất trong Hệ Mặt trời của chúng ta, quay quanh Mặt trời mất 88 ngày Trái đất. Sao Thiên Vương, ngôi sao thứ bảy tính từ Mặt trời, mất 84 năm Trái đất mới quay hết một vòng quanh Mặt trời. Và thiên hà lùn – sao Diêm Vương – cần đến 248 năm Trái đất mới đi hết một vòng quỹ đạo.

Mặc dù về mặt vật lý, quỹ đạo các hành tinh cũng tương tự như cơ chế hình thành quỹ đạo của Hệ Mặt trời xung quanh dải Ngân Hà, nhưng điều đáng quan tâm là làm thế nào để các nhà thiên văn học tính ra được độ dài của một năm thiên hà. Theo Giáo sư Hawkins thì không có gì quá khó hiểu mà khoa học cơ bản đã rất rõ ràng từ những ngày đầu tiên của ngành thiên văn học hiện đại. “Vấn đề chủ yếu chỉ là quan sát các ngôi sao chuyển động xung quanh thiên hà. Bạn có thể theo dõi các ngôi sao chuyển động quanh thiên hà và suy luận từ tốc độ và hướng chuyển động của các ngôi sao khác".

Theo Dân Trí